Xem bản đẹp trên 123doc.vn

Xuất khẩu điều sang thị trường Mỹ

Lời nói đầu
**** *** *** *** *** *** ***
Đẩy mạnh xuất khẩu là chủ trương kinh tế lớn của Đảng và Nhà nước Việt
Nam trong thời đại hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng như hiện nay. Đây là một
trong những yếu tố quan trọng thúc đẩy tiến trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá
đất nước. Để hoàn thành được nhiệm vụ đó cũng như giúp Việt Nam bắt kịp
được với tiến trình toàn cầu hoá và hội nhập, chúng ta cần phải tăng cường mở
rộng thị trường, đa dạng hóa các mặt hàng xuất khẩu và tiếp tục phát huy các
mặt hàng thế mạnh.
Hiện nay Mỹ đã và đang là đối tác quan trọng, một thị trường lớn có khả
năng tiêu thụ nhiều hàng hoá, sản phẩm của Việt Nam. Các mặt hàng xuất khẩu
chủ lực của Việt Nam cũng chính là những mặt hàng mà thị trường này có nhu
cầu nhập khẩu hàng năm với khối lượng như giầy dép, thuỷ hải sản, nông sản…
Trong đó điều là một trong những mặt hàng nông sản quan trọng nhất được bán
rộng rãi, chiếm thị phần cao trên thị trường Mỹ. Vì vậy đẩy mạnh xuất khẩu
hàng hoá nói chung và đẩy mạnh xuất khẩu điều nói riêng vào thị trường Mỹ là
một việc làm cần thiết đối với nước ta hiện nay. Tuy nhiên để làm được điều này
Việt Nam cần tập trung nghiên cứu tìm cách giải quyết các vướng mắc, cản trở
hoạt động xuất khẩu sang Mỹ và tìm ra các giải pháp căn bản để đẩy mạnh xuất
khẩu nhân điều.
"Xuất khẩu điều sang thị trường Mỹ" làm đề tài cho môn đề án môn học
của mình.
Bố cục của đề tài được chia làm ba phần:
I: Một số lý luận về hoạt động xuất khẩu
II: Thực trạng xuất khẩu điều vào thị trường Hoa Kỳ
III: Đề xuất thúc đẩy phát triển ngành điều và đẩy mạnh xuất khẩu sang Mỹ
1
Xuất khẩu điều sang thị trường Mỹ
I. Một số lý luận về hoạt động xuất khẩu
1 Khái niệm về xuất khẩu
1.1 Khái niệm
Xuất khẩu là một hoạt động kinh doanh thu doanh lợi bằng cách bán hàng hóa
hoặc dịch vụ ra thị trường nước ngoài dựa trên cơ sở dùng tiền tệ làm phương
tiên thanh toán, với mục tiêu là lợi nhuận.
Tiền tệ ở đây có thể là ngoại tệ đối với một quốc gia hoặc với cả hai quốc gia.
Mục đích của hoạt động này là thu được một khoản ngoại tệ dựa trên cơ sở khai
thác lợi thế so sánh của từng quốc gia trong phân công lao động quốc tế. Khi
việc trao đổi hàng hoá giữa các quốc gia đều có lợi thì các quốc gia đều tích cực
tham gia mở rộng hoạt động này.
2. Vai trò của hoạt động xuất khẩu
Hoạt động xuất khẩu là một nội dung chính của hoạt động ngoại thương và là
hoạt động đầu tiên của thương mại quốc tế. Xuất khẩu có vai trò đặc biệt quan
trọng trong quá trình phát triển kinh tế của từng quốc gia cũng như trên toàn thế
giới:
2.1. Xuất khẩu tạo ra nguồn thu ngoại tệ
Ngoại tệ sử dụng làm phương tiện thanh toán trong khi đó xuất khẩu góp
phần làm tăng dự trữ ngoại tệ một quốc gia. Đặc biệt với các nước đang
phát triển đồng tiền không có khả năng chuyển đổi thì ngoại tệ có được
nhờ xuất khẩu đóng vai trò quan trọng trong việc điều hoà về cung cấp
ngoại tệ, ổn định sản xuất, qua đó góp phần vào tăng trưởng và phát
triển kinh tế.
2.2. Xuất khẩu tạo ra nguồn vốn chủ yếu cho nhập khẩu, đáp ứng yêu cầu công
nghiệp hoá - hiện đại hoá (CNH - HĐH) đất nước
Đối với mọi quốc gia đang phát triển thì bước đi thích hợp nhất là phải
công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước để khắc phục tình trạng nghèo
làn lạc hậu chận phát triển. Tuy nhiên quá trình công nghiệp hoá phải có
một lượng vốn lớn để nhập khẩu công nghệ thiết bị tiên tiến. Xuất khẩu
là một hoạt động tạo một nguồn vốn rất quan trọng nhất, tạo tiền đề cho
nhập khẩu, nó quyết định đến qui mô tốc độ tăng trưởng của hoạt động
nhập khẩu. Ở một số nước một trong những nguyên nhân chủ yếu của
tình trạng kém phát triển là do thiếu tiềm năng về vốn do đó họ cho
nguồn vốn ở bên ngoài là chủ yếu, song mọi cơ hội đầu tư vay nợ và
viện trợ của nước ngoài chỉ thuận lợi khi chủ đầu tư và người cho vay
thấy được khả năng sản xuất và xuất khẩu – nguồn vốn duy nhất để trả
nợ thành hiện thực.
2.3. Xuất khẩu góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng CNH - HĐH
Thứ nhất: Xuất khẩu tạo tiền đề cho các ngành khác cùng có cơ hội phát triển.
Điều này có thể thông qua ví dụ như khi phát triển ngành dệt may xuất
khẩu, các ngành khác như bông, kéo sợi, nhuộm, tẩy…sẽ có điều kiện
phát triển.
2
Thứ hai: Tạo điều kiện mở rộng khả năng cung cấp đầu vào cho sản xuất, mở
rộng thị trường tiêu dùng của một quốc gia. Nó cho phép một quốc gia
có rthể tiêu dùng tất cả các mặt hàng với số lương lớn hơn nhiều lần giới
hạn khả năng sản xuất của quốc gia đó thậm chí cả những mặt hàng mà
họ không có khả năng sản xuất được.
Thứ ba: Góp phần thúc đẩy chuyên môn hoá, tăng cường hiệu quả sản xuất của
từng quốc gia. Nó cho phép chuyên môn hoá sản xuất phát triển cả về
chiều rộng và chiều sâu.
2.4. Xuất khẩu góp phần giải quyết việc làm cho xã hội và cải thiện đời sống
nhân dân
Đối với công ăn việc làm, xuất khẩu thu hút hàng triệu lao động thông
qua việc sản xuất hàng xuất khẩu. Mặt khác, xuất khẩu tạo ra ngoại tệ để
nhập khẩu hàng tiêu dùng đáp ứng yêu cầu ngay càng đa dạng và phong
phú của nhân dân.
2.5. Xuất khẩu là cơ sở để mở rộng và thúc đẩy sự phát triển các mối quan hệ
kinh tế đối ngoại.
Xuất khẩu và các mối quan hệ kinh tế đối ngoại, ngoại giao có tác động
qua lại, phụ thuộc lẫn nhau. Hoạt động xuất khẩu là cơ sở tiền đề vững
chắc để xây dựng các mối quan hề kinh tế đối ngoại sau này, từ đó kéo
theo các mối quan hệ khác phát triển như du lịch quốc tế, bảo hiểm quốc
tế, tín dụng quốc tế… ngược lại sự phát triển của các ngành này lại tác
động trở lại hoạt động xuất khẩu làm cơ sở hạ tầng cho hoạt động xuất
khẩu phát triển.
II. Thực trạng xuất khẩu điều vào thị trường Hoa Kỳ
2.1 Đặc điểm ngành công nghiệp chế biến điều xuất khẩu ở Việt Nam
Điều là một trong sáu mặt hàng nông sản giữ vai trò quan trọng trong
xuất khẩu của Việt Nam và có vị thế cao trên thế giới. Nếu như xuất
khẩu cà fê, gạo đứng thứ 2 thế giới, cao su đứng thứ 4, chè đứng thứ 5
thì xuất khẩu nhân điều và hạt tiêu đen của Việt Nam thường xuyên giữ
ở vị trí số một.
2.1.1 Về nguồn cung điều xuất khẩu Việt Nam
Nguyên liệu điều của Việt Nam chủ yếu được nhập khẩu từ các nước
Châu Phi chiếm khoảng 40 % , trong đó sản lượng điều trong nước chỉ
có thể đáp ứng được 60% nhu cầu (theo ước tính của Vinacas năm 2009)
Điều thô được cung cấp từ trong nước đáp ứng khoảng 60% nhu cầu,
được cho là đứng vị trí số 1, hương vị thơm ngon, màu sắc tự nhiên,
không nhiễm dư lượng thuốc bảo vệ thực vật, chất lượng hơn hẳn nhân
điều của Ấn Độ, Brazil hay Tanzania.
Theo hiệp hội điều Việt Nam( Vinacas), Việt Nam hiện có khoảng
400.000 héc ta hạt điều, trồng chủ yếu ở các tỉnh phía nam, với năng
suất 1,06 tấn/héc ta. Đứng đầu về sản xuất và xuất khẩu điều là tỉnh
Bình Phước. Với diện tích hơn 150 ngàn ha, chiếm 45% diện tích điều
3
cả nước; năng suất cao từ 1,1 – 1,5 tấn/ha và có trên 200 cơ sở chế biến
hạt điều, Bình Phước là thủ phủ điều cả nước và ngành điều trở thành
ngành nông sản chủ lực của tỉnh.
Bảng 1: Diện tích, sản lượng, kim ngạch xuất khẩu điều ước tính năm 2010 so
với 2009.
ước tính 2010 2009
Diện tích (hécta) Không có số liệu 398.100
Sản lượng (tấn) 400.000-450.000 293.500
Mục tiêu xuất khẩu 180.000 177.200
2 tháng đầu
năm 2010
2 tháng đầu
năm 2009
Khối lượng xuất khẩu (tấn) 19.900 20.800
Kim ngạch xuất khẩu (triệu
USD)
108 94.4
Theo ước tính của Vinacas (http://www.vinacas.com.vn)
Cũng theo Vinacas, điều thô nhập từ các nước châu Phi, trong 5 năm
(từ 2006 đến 2010) ngành điều VN nhập gần 1 triệu tấn điều thô từ các
nước châu Phi như Bờ Biển Ngà (trên 50%), Guinea Bissau,
Mozambique và một số nước châu Á như Indonesia, Campuchia.
2.1.2 Công nghệ chế biến điều
Thời gian đầu , công nghệ chế biến hạt điều trong nước kết hợp thủ
công và cơ giới, trong đó hai công đoạn quan trọng là cắt tách vỏ hạt và
bóc vỏ lụa nhân vẫn dựa vào thủ công, việc nhập khẩu máy móc, công
nghệ nước ngoài là rất tốn kém chi phí lên đến 16 đến 20 tỷ đồng nhập
khẩu dây chuyền cắt, tách hạt tự động từ nước ngoài. Hiện nay Việt
Nam đã có công nghệ sản xuất điều của riêng mình. Thay vì nhập khẩu
dây chuyền ngoài thì nay doanh nghiệp chỉ mất khoảng 5 tỷ đồng nhờ
công nghệ trong nước. Điều này tiết kiệm chi phí và nâng cao năng suất
rõ rệt trong sản xuất chế viến điều cho các doanh nghiệp Việt Nam. Bên
cạnh đó dây chuyền chế biến hạt điều trong nước sản xuất giúp giảm
được khoảng 50% - 60% lao động/mỗi dây chuyền. Các khâu trong dây
chuyền của một nhà máy chế biến điều đều được tự động hóa, và đều
được chế tạo trong nước.
2.1.3 Lợi thế sản xuất và xuất khẩu điều của Việt Nam
Theo lý thuyết về lợi thế so sánh của Ricardo các mặt hàng nông sản
Việt Nam có sức cạnh tranh cao trên thị trường thế giới.
Với nguồn lao động sẵn có và chi phí chế biến rẻ là một yếu tố quan
trọng trong việc tạo ra lợi thế so sánh trong xuất khẩu, đây cũng là một
trong những đặc điểm của các quốc gia đang phát triển. Ngành điều hiện
nay thu hút khá lớn nguồn lao động tham gia chế biến xuất khẩu, hơn
nữa lại chủ yếu là lao động phổ thổng nên mức lương lại giữ ở mức
4
thấp. Việc nguồn lao động, chi phí rẻ và có khả năng đáp ứng tạo ra lợi
thế lớn cho Việt Nam trong việc xuất khẩu nhân điều ra thế giới.
Bên cạnh đó, hiện nay ở Việt Nam đã có công nghệ chế biến điều
riêng thay vì nhập khẩu máy móc rất đắt từ nước ngoài. Với năng suất
cao, tỷ lệ hạt bể vỡ thấp hơn nữa giá thành lại rẻ, đây là một trong những
yếu tố góp phần đưa Việt Nam trở thành nước đứng đầu thế giới về xuất
khẩu nhân điều kể từ năm 2008. Theo đánh giá của Bộ công thương thì:
“Công nghệ chế biến hạt điều Việt Nam chính là báu vật, bí kíp vì đã
góp phần vào sự thành công của ngành điều trong nước trong vòng 20
năm trở lại đây”.
2.1.4 Các nhà máy chế biến điều ở Việt Nam và tiêu chuẩn áp dụng khi xuất
khẩu
Với mục tiêu tiếp tục phát huy thế mạnh và giữ vững vị trí xuất khẩu
nhân điều trên thế giới, hiện nay ngành điều đang tích cực các khâu chế
biến sâu, đa dạng hóa sản phẩm, xây dựng thương hiệu và thực hiện tốt
vệ sinh an toàn thực phẩm.
Hai tiêu chuẩn phổ biến của ngành điều Việt Nam áp dụng khi thực hiện
xuất khẩu là ISO 9001:2000 và HACCP. Đến hết năm 2009, theo ước
tính của Bộ công thương cả nước có trên 200 DN chế biến hạt điều
trong đó có 20 DN đạt ISO 9001:2000 và HACCP. Các doanh nghiệp
chế biến điều hầu hết là vừa và nhỏ, trong đó trong 203 doanh nghiệp
tham gia xuất khẩu điều chỉ có 38 doanh nghiệp có kinh nghạch xuất
khẩu từ 5 triệu USD trở lên.
2.1.5 Những lợi ích mang lại từ việc xuất khẩu điều với nền kinh tế quốc dân
Với việc thu hút số lượng lớn nhân công, tạo việc làm, tăng thu ngoại tệ, xuất
khẩu điều cũng như với việc xuất khẩu các mặt hàng nông sản khác của Việt
Nam mang lại lợi ích lớn đến nền kinh tế quốc dân.
Thứ nhất: Giải quyết việc làm tạo, thu nhập cho người lao động. Bên cạnh đó
cây điều được trồng chủ yếu ở các địa bàn khó khăn, đã góp phần hỗ
trợ tích cực cho cải thiện đời sống nông dân ở các vùng nông thôn.
Giúp xóa đói giảm nghèo cho người dân.
Thứ hai: Mang lại nguồn thu ngoại tệ cho quốc gia, trước tình trạng khan hiếm
ngoại tệ như hiện nay. Năm 2009 Việt Nam xuất khẩu nhân điều đạt
kim ngạch 850 triệu USD. Dự kiến đến hết năm 2010 xuất khẩu điều
sẽ đạt 1,12 tỷ USD tiếp tục dẫn đầu thế giới.
Thứ ba: Đóng góp lớn vào ngân sách nhà nước. Việc xuất khẩu nhân điều giữ
vị trí số một, với nguồn thu ngoại tệ lơn đồng nghĩa với việc đóng góp
vào ngân sách nhà nước cũng tăng cao.
Thứ tư: Việc phát triển của ngành điều tạo ra thúc đẩy phát triển cho các lĩnh
vực khác trong nền kinh tế quốc dân, như ngân hàng, tín dụng, bảo
hiểm…
5
2.2 Đặc điểm của thị trường Hoa Kỳ
2.2.1 Đặc điểm cơ bản của thị trường Mỹ
Thứ nhất: Mỹ là một thị trường khổng lồ. Dung lượng thị trường Mỹ rất lớn do
Mỹ có dân số đông, thu nhập bình quân đầu người cao. Sức mua của
người Mỹ lớn vì họ chi tiêu mua sắm nhiều. Theo thống kê, trong 15
năm qua, tỷ lệ tiết kiệm của người Mỹ đã từ 6% giảm xuống còn 1%.
Hàng hoá mà người Mỹ tiêu dùng hầu hết được nhập khẩu từ bên ngoài.
Có thể đánh giá rằng Mỹ là một xã hội tiêu thụ.
Thứ hai: Cơ cấu thị trường và mặt hàng tiêu thụ ở Mỹ rất đa dạng, nhu cầu hàng
hoá ở từng vùng không giống nhau. Hàng hoá dù có chất lượng cao hay
vừa đều có thể bán trên thị trường Mỹ vì ở đây có nhiều tầng lớp dân cư
với mức sống khác nhau. Tuy nhiên, đòi hỏi của người tiêu dùng Mỹ đối
với sản phẩm cũng rất khắt khe, sản phẩm không chỉ chất lượng tốt mà
giá cả phải hợp lý và dịch vụ đảm bảo
Thứ ba: Với sức hấp dẫn của mình, Mỹ là một thị trường cạnh tranh gay gắt.
Hàng hoá của một nước vào thị trường Mỹ phải cạnh tranh với các mặt
hàng tương tự từ nhiều nước khác và hàng sản xuất trong nước. Mấu
chốt để cạnh tranh trên thị trường Mỹ là giá cả, chất lượng và dịch vụ.
Đôi khi đòi hỏi về giá cả lại lớn hơn đòi hỏi về chất lượng. Do người
tiêu dùng Mỹ thích thay đổi, họ muốn mua những hàng hoá rẻ, chất
lượng vừa phải hơn những mặt hàng bền mà giá lại đắt. Vì nguyên nhân
này mà các hàng hoá của Trung Quốc rất thành công trên thị trường Mỹ.
Một điều nữa cần lưu ý là khi bán hàng trên thị trường Mỹ, công tác
marketing đóng vai trò hết sức quan trọng.
Thứ tư: Thị trường Mỹ được quản lý trên cơ sở pháp luật. Trong thương mại,
các văn bản luật bao gồm luật điều chỉnh chung, luật điều chỉnh từng
nhóm các mặt hàng và thậm chí một số mặt hàng có luật điều chỉnh
riêng. Các luật này rất chặt chẽ và đòi hỏi sự tuân thủ nghiêm ngặt. Hệ
thống luật này khá phức tạp và làm cho các nhà xuất khẩu nước ngoài
gặp khó khăn nếu không nắm vững.
2.2.2 Những khó khăn khi xuất khẩu hàng hóa sang Mỹ
Thứ nhất: Hàng hóa Việt Nam vào Mỹ gặp nhiều rào cản. Người Mỹ đã gắn
thương mại hàng hóa với môi trường, coi như một đạo luật nhưng thực
chất là rào cản phi quan thuế mới trong giao thương hàng hóa. Hiện nay
vào thị trường Mỹ gặp phải khá nhiều quy định, rào cản theo hướng bất
lợi cho một quốc gia đang phát triển như Việt Nam.
Từ khi hiệp định thương mại Việt - Mỹ có hiệu lực bắt đầu từ ngày
10/12/2001, có thể khẳng định rằng việc hiệp định thương mại Việt -
Mỹ có hiệu lực tạo điều kiện rất thuận lợi cho việc xuất khẩu hàng nông
sản của Việt Nam sang thị trường Mỹ, một thị trường có sức mua lớn
nhất thế giới. Xuất khẩu nông sản vào thị trường Mỹ là một thế mạnh
của Việt Nam trong hơn chục năm qua nhưng điều đó dường như đã
thay đổi khi thị trường nước này ngày càng có nhiều quy định, đòi hỏi
6
nhà xuất khẩu phải vượt qua. Ví dụ như Mỹ áp dụng đạo luật Lacey
trong xuất khẩu đồ gỗ, các quy định của Farm Bill 2008 của Mỹ, hay áp
dụng phương pháp “zeroing” (quy về bằng không) khi tính toán biên độ
phá giá…Điều này khiến cho 5 tháng đầu năm 2010 Việt Nam lại trở
thành nước nhập siêu nông sản từ Mỹ, lần đầu tiên trong 5 năm qua.
Để giảm thiểu bớt rào cản chỉ khi phía Mỹ đồng ý cho Việt Nam
hưởng Quy chế hưởng Hệ thống thuế quan phổ cập (GSP) và công nhận
Việt Nam là nước có nền kinh tế thị trường thì khi đó xuất khẩu nông
sản vào Mỹ mới thuận lợi.
Thứ hai:
Mỹ là một thị trường không nhưng có những quy định khắt khe mà còn
có sự cạnh tranh gay gắt. Theo thống kê, đối thủ chính của Việt Nam
trong ngành hàng cà phê hiện là Indonesia và Ấn Độ. Hạt tiêu thì có
Indonesia, Ấn Độ, Malaysia; cao su là Thái Lan, lndonesia, Malaysia;
hải sản là Thái Lan, Philippines. Riêng về hai ngành hàng có kim ngạch
nhập khẩu cao nhất vào Mỹ hiện nay là may mặc và giày dép thì các đối
thủ chính của Việt Nam là Trung Quốc, Bangladesh, Thái Lan,
Philippines cùng với một số
nước thuộc vùng Nam Mỹ, châu Âu.
Thứ ba:
Nhưng khó khăn về vấn đề luật lệ, các quy tắc thương mại khi làm ăn
với Mỹ. Luật pháp chi phối môi trường kinh doanh ở Mỹ, và các doanh
nghiệp thường có thói quen kiện tụng, đưa nhau ra tòa để giải quyết các
tranh chấp thương mại. Do vậy các doanh nghiệp Việt Nam phải thật
cẩn trọng quan hệ làm ăn. Việc sử dụng luật sư tư vấn để hạn chế những
tranh chấp hay xác định rõ các điều khoản ký trong hợp đồng sẽ giúp
cho phía doanh nghiệp Việt Nam chủ động trong những tranh chấp với
doanh nghiệp Mỹ.
2.3 Xuất khẩu điều sang thị trường Hoa Kỳ
2.3.1. Tình hình xuất khẩu điều của Việt Nam hiện nay
Theo Vinacas- hiệp hội điều Việt Nam, hiện nay Việt Nam đang là
nhà xuất khẩu nhân điều lớn nhất thế giới với 37% thị phần xuất khẩu
điều thế giới. Vị trí này được Việt Nam duy trì liên tục từ năm 2006,
năm 2009 Việt Nam xuất khẩu 177.000 tấn nhân điều các loại, đạt kim
ngạch 850 triệu USD. Ngoài nguyên liệu trong nước, Việt Nam còn
nhập thêm hạt điều thô về chế biến xuất khẩu; trên 95% lượng điều dành
cho xuất khẩu mỗi năm. Năm 2007, xuất khẩu điều đạt 150 ngàn tấn
nhân điều, giá trị 641 triệu USD, tăng 18,2 % về lượng, 27,2% về giá trị
xuất khẩu so với năm 2006.
Dự kiến năm 2010 xuất khẩu điều sẽ đạt 1,12 tỷ USD với tổng sản
lượng 400.000 tấn tiếp tục dẫn đầu thế giới. chiếm 36% tấn nhân điều
giao dịch.
7
Bảng 2: Sản lượng và giá trị xuất khẩu nhân điều Việt Nam qua các năm
Năm 2006 2007 2008 2009 9 tháng
đầu năm
2010
Số lượng
xuất khẩu
(tấn)
127.000 150.000 167.000 177.000 143.000
Giá trị (triệu
USD)
504 641 920 850 788
Theo ước tính của Vinacas (http://www.vinacas.com.vn)
Về tốc độ tăng trưởng xuất khẩu sang các thị trường, kim nghạch xuất
khẩu hạt nhân điều sang các thị trường thế giới tăng mạnh trong 4 tháng
đầu 2010 so với cùng kì năm ngoái. Trong đó có 4 thị trường tăng
trưởng trên 100% là: Nga, Ucraina, Canada, Thái Lan. Ngược lại, cũng
có 5 thị trường sụt giảm kim ngạch so cùng kỳ: Hy Lạp, Pakistan, Trung
quốc, Nauy ,Philippines. (bảng phụ lục số 1)
Hiện nay, giá điều xuất khẩu không chỉ Việt Nam mà các nước xuất
khẩu khác thời gian gần đây tăng mạnh. Đầu năm 2010, thao thống kê
của hiệp hội điều Việt Nam, giá điều trung bình đạt 5.213 USD/tấn, tăng
780 USD/tấn so với cùng kỳ năm ngoái. Trong quý I, các doanh nghiệp
chế biến điều đã xuất khẩu được 30.602 tấn, đạt 159,53 triệu USD, giảm
3,3% về lượng nhưng vẫn tăng 13,6% về kim ngạch.
Tuy nhiên nguồn nguyên liệu hiện nay đang thiếu trầm trọng:
Trong nước do nắng nóng kéo dài đã ảnh hưởng đến quá trình sinh
trưởng, ra hoa và tạo quả của cây điều; diện tích điều giảm nhanh do
tình trạng chặt bỏ cây điều chuyển sang trồng các loại cây khác như cao
su, sắn. Bên cạnh đó do sản lượng điều trên thế giới giảm mạnh khoảng
20%. Chính thực trạng như vậy dẫn đến việc cạnh tranh thu mua nguyên
liệu giữa các quốc gia rất quyết liệt khiến giá điều thô tăng lên mực cao
mức giá điều thô bị đẩy tăng 30% so với cùng kỳ năm 2009 (khoảng
1.000USD/tấn).Cùng với việc doanh nghiệp thiếu vốn nghiêm trọng
khiến từ giờ đến cuối năm các doanh nghiệp Việt Nam sẽ thiếu hụt điều
khô nghiêm trọng ước tính khoảng 150.000 tấn điều thô các loại, ảnh
hưởng lớn đến mục tiêu xuất khẩu đề ra.

2.3.2 Thực trạng xuất khẩu điều sang thị trường Hoa Kỳ
Năm 2008, Việt Nam đã vượt qua Ấn Độ trở thành nước cung cấp
điều lớn nhất sang thị trường Hoa Kỳ nói riêng và thế giới nói chung.
Nhân điều của Việt Nam được đối tác phía Mỹ đánh giá có chất lượng
tốt nhất. Theo Hiệp hội điều Việt Nam (Vinacas), xuất khẩu hạt điều của
Việt Nam vào Hoa Kỳ chiếm 33,29% tổng kim ngạch nhập khẩu hạt
điều của quốc gia này.
8