phân tích thu nhập của hộ nông dân do thay đổi hệ thống canh tác ở đồng bằng sông hồng

BÁO CÁO TỔNG HỢP
PHÂN TÍCH THU NHẬP CỦA HỘ NÔNG DÂN
DO THAY ĐỔI HỆ THỐNG CANH TÁC Ở
ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG
Người thực hiện: TS. Lê Thị Nghệ
ThS. Lương Như Oanh
KS. Phạm Quốc Trị
Và tập thể cán bộ nghiên cứu
HÀ NỘI, THÁNG 4 NĂM 2006
2
Lời cảm ơn
Nhân dịp nghiệm thu đề tài “Phân tích thu nhập của hộ nông dân do
thay đổi hệ thống canh tác ở Đồng bằng sông Hồng”, chúng tôi xin trân thành
cảm ơn sự quan tâm giúp đỡ tạo mọi điều kiện thuận lợi cho hoạt động triển
khai nghiên cứu thành công đề tài của:
- Giám đốc dự án MISPA và Ban điều hành Dự án;
- Lãnh đạo viện Chính sách và Chiến lược phát triển nông nghiệp
nông thôn; cán bộ phòng Khoa học, phòng Tổ chức Hành chính và
phòng Tài vụ Viện;
- Các cố vấn tư vấn kỹ thuật triển khai nghiên cứu đề tài;
- Các giám sát viên của đề tài.
Chúng tôi cũng xin trân thành cảm ơn các đồng chí cộng tác viên: cán
bộ nghiên cứu của viện Chính sách và Chiến lược phát triển nông nghiệp nông
thôn và cán bộ nghiên cứu của Bộ Hệ thống nông nghiệp viện VASI; các cán
bộ sở Nông nghiệp & PTNT tỉnh Hải Dương, Nam Định, Thái Bình và Hà
Tây; các cán bộ phòng Nông nghiệp và PTNT huyện Gia Lộc, Vụ Bản, Tiền
Hải và Hoài Đức; cán bộ lãnh đạo chính quyền và hộ nông dân tại các xã:
Đoàn Thượng, Thống Kênh, Vĩnh Hào, Thành Lợi, Nam Cường, Đông Quí,
Đức Giang và Lại Yên đã không quản ngại khó khăn, tận tình phối hợp triển
khai nghiên cứu và cung cấp đầy đủ hệ thống thông tin hết sức phong phú và
quý báu, đóng góp cho sự thành công của đề tài./.
Hà Nội, tháng 4 năm 2006
Thay mặt nhóm nghiên cứu
Lê Thị Nghệ
3
PHẦN I: GIỚI THIỆU NGHIÊN CỨU
1. Bối cảnh nghiên cứu.
1.1. Những vấn đề thực tiễn đang đặt ra ở vùng Đồng bằng sông Hồng.
Đồng bằng sông Hồng (ĐBSH) hiện có diện tích xấp xỉ 15.000 km2, trong đó
diện tích đất nông nghiệp là 855 ngàn ha, bằng 57% tổng diện tích. Tổng dân số của
ĐBSH là 17,6 triệu người, trong đó 13,4 triệu là dân số nông nghiệp và nông thôn.
Như vậy so với cả nước đồng bằng chỉ chiếm gần 5% diện tích cả nước nhưng dân
số tập trung lên đến 21% dân số cả nước. Mật độ dân số ở ĐBSH cao nhất cả nước
là 1170 người/km
2
(GSO,2003).
Kể từ sau đổi mới (1989), nền kinh tế gia đình được thiết lập trở lại ở đồng
bằng, hộ nông dân trở thành đơn vị sản xuất tự chủ. Đất đai do các HTX trước đây,
đã được chia cho nông dân theo thời hạn sử dụng quy định trong luật năm 1993.
Giai đoạn đầu mới tái lập từ năm 1988 đến 1993, đứng trước thách thức về an toàn
lương thực… các hộ nông dân đã tập trung sản xuất cho nhu cầu của nông hộ (Đào
Thế Anh, Vũ trọng Bình và cộng sự, 2000). Giai đoạn sau, khi bình quân lương thực
đã tăng đáng kể (từ 288 kg năm 1988 lên 390 kg/người năm 1993), thúc đẩy đa dạng
hoá sản xuất và sự tham gia có hiệu quả vào thị trường là những vấn đề đặt ra cho
nông hộ ở đồng bằng. Kết quả nghiên cứu mới đây cho thấy gần 70% sản lượng của
nông hộ đã được trao đổi với thị trường (VLSS,2002).
Tuy nhiên, quy mô đất đai của các nông hộ hiện nay quá nhỏ và manh mún.
Trung bình mỗi hộ chỉ có 0,25 ha đất nông nghiệp. Trong khi khả năng tập trung
ruộng đất diễn ra rất chậm chạp. Quá trình chuyên môn hoá sản xuất ở nông hộ diễn
ra yếu. Phần lớn số hộ còn lại có xu hướng đa dạng hoá hoạt động sản xuất của
mình với mục đích chủ yếu là để giảm rủi ro với sự bấp bênh của thị trường. Thu
nhập bình quân đầu người của nông dân có tăng, nhưng tốc độ tăng chậm trong
những năm qua. Tính theo giá cố định năm 1994, thu nhập/khẩu/tháng ở đồng bằng
tăng từ 190 ngàn đồng/khẩu/tháng năm 1996 lên 264 ngàn đồng/khẩu/tháng năm
2002, tổng mức tăng đạt 40%, nhưng chỉ bằng mức tăng trung bình cả nước (bảng
dưới), có một khoảng cách so với mức tăng ở vùng Đông nam bộ (45%). Tính theo
giá hiện hành, bình quân thu nhập từ trồng trọt của một hộ ở ĐBSH chỉ đạt 4,9 triệu
đồng năm 2000, đứng thứ 6 trên 8 vùng sinh thái trong cả nước (GSO,2001) (bảng
1).
Một số nguồn thông tin khác cho thấy thu nhập của nông dân còn thấp hơn
nhiều. Tác giả Nguyễn Mạnh Huấn nghiên cứu ở Thái bình năm 1999, 2000, đưa ra
con số thu nhập tại chỗ (không tính thu từ nơi khác chuyển về) bình quân/hộ/năm
chỉ là 2119 ngàn đồng. Cùng giai đoạn này, trung tâm Khoa học xã hội và Nhân văn
quốc gia đưa ra con số tổng thu nhập của hộ trung bình là 9,465 triệu đồng/hộ/năm,
4
hay 185 ngàn đồng/tháng/khẩu. Sự khác nhau của các con số trên do phương pháp
nghiên cứu khác nhau, nhưng tất cả đều cho thấy thu nhập của người dân ở ĐBSH là
khá thấp.
Bảng I-1: Thu nhập bình quân đầu người tháng (1000 đồng)
(giá so sánh năm 1994)
1996 1999 2001-2002
So sánh
2002/1996
Cả nước 192,49 221,19 267,01 1,39
Thành thị 432,89 387,42 468,38 1,08
Nông thôn 159,54 168,70 205,72 1,29
Đồng bằng sông Hồng 189,60 210,17 264,39 1,39
Nguồn : Tổng cục thống kê (2003)
Thu nhập của người nông dân thấp có nguyên nhân trực tiếp là do quy mô đất
trung bình của các nông hộ quá nhỏ. Nhưng nhiều nhà kinh tế lí luận rằng, mức thu
nhập vẫn có thể tăng lên nhờ sự chuyển đổi của các hệ thống sản xuất nông nghiệp ở
ĐBSH theo hướng đa dạng hoá, phát triển các hoạt động phi nông nghiệp và chăn
nuôi. Nhưng hiện nay có nhiều ý kiến xung quanh vấn đề phát triển của các hệ
thống sản xuất. Người ta cho rằng, những cản trở của quá trình chuyển đổi chủ yếu
là do sự yếu kém trong khâu tổ chức sản xuất (làm tăng chi phí thu gom), giá lao
động cao và yếu tố rủi ro thị trường lớn. Hệ quả là giá thành các sản phẩm nông sản
ở ĐBSH cao, chất lượng không đồng đều, lợi thế cạnh tranh ở của các sản phẩm
không cao. Sản xuất nông nghiệp ở ĐBSH rơi vào vòng luẩn quẩn khi hiệu quả sản
xuất thấp  nông dân không muốn đầu tư  hiệu quả càng thấp  Nông dân
không thiết tha với nông nghiệp và ruộng đất. Minh chứng cho luận điểm này, người
ta đưa ra các thống kê về di dân chính thức ở đồng bằng sông Hồng và tỷ lệ hộ nông
dân không có đất tăng liên tục hằng năm. Giai đoạn 10 năm từ 1984 đến 1994, cả
ĐBSH có tổng cộng 191.987 người chuyển đi nơi khác, nhưng chỉ riêng 5 năm sau
đó 1994–1999, đã có 148.933 người chuyển đi. Tương tự, tỷ lệ nông dân không đất
ở ĐBSH hầu như không tăng ở giai đoạn 1993–1998, nhưng từ 1998 đến 2002 đã
tăng rất nhanh, thậm chí nhanh hơn cả ở ĐBSCL (bảng 2).
Bảng I-2: Tỷ lệ hộ gia đình ở nông thôn không có đất (%)
1993 1998 2002
Cả nước
8 9 19
Đồng bằng sông Hồng 3,2 3,0 14
Đồng bằng Cửu long
17 21 29
Nguồn: ĐTMSDC 1993, ĐTMSDC 1998 và ĐTMSHGĐ 2002 (WB, 2003)
Trên thực tế thì sự phát triển của các hệ thống sản xuất nông nghiệp ở ĐBSH
những năm qua là khá đa dạng, mặc dù mức tăng thu nhập bình quân đầu người
chung cho cả đồng bằng sông Hồng là không cao. Những đặc điểm này không mâu
thuẫn với nhau, bởi vì những quan sát gần đây cho phép kết luận rằng sự phát triển
của các hệ thống sản xuất ở ĐBSH là không tương đồng giữa các vùng và thậm chí
5
gia cỏc h thng ngay trong mt vựng
1
. Hiu qu kinh t ca cỏc h thng sn xut
trong vựng cú xu th c canh lỳa (thng vựng trng) thp hn cỏc h thng sn
xut trong vựng a canh cõy mu hng hoỏ, cõy n qu v phỏt trin chn nuụi.
Nhng h thng cú tớnh cht chuyờn mụn hoỏ cao (vớ d chn nuụi ln, cõy n qu)
cú hiu qu kinh t cao gp nhiu ln h thng a canh truyn thng, nhng do
nhiu lớ do t l ca cỏc h thng chuyờn canh cha cao Mt khỏc, s bin i ca
cỏc h thng rung t trong cỏc vựng khỏc nhau BSH cng din bin phc tp.
ụ th hoỏ, cụng nghip v giao thụng phỏt trin ó lm mt ỏng k din tớch t
canh tỏc lỳa BSH. iu ú dn n vic gim bỡnh quõn din tớch t nụng
nghip/u ngi v nh hng ti tớnh n nh trong sn xut nụng nghip mt
s vựng.
Túm li, trong nhng nm qua, ó xut hin s chuyn i ca cỏc h thng
sn xut v quỏ trỡnh a dng hoỏ sn xut cỏc vựng khỏc nhau trong ng bng
sụng Hng. Tuy nhiờn, quỏ trỡnh ny din ra cũn chm v cha chc chn? Nhng
nm ti, trin vng phỏt trin ca hn 3,1 triu nụng h hin ny s quyt nh
tng lai ca nụng nghip, nụng thụn BSH. Vi v trớ rt quan trng c v kinh t,
chớnh tr v vn hoỏ ca BSH, cõu hi t ra l: lm th no cú th h tr cỏc
nụng h nõng cao thu nhp?; Chớnh sỏch no cú th gii quyt c mõu thun mt
bờn l thu nhp cao ca h nụng dõn v bờn kia l tỡnh trng khan him v rung
t?; Chớnh sỏch no cú th nõng cao hn na hiu qu s dng cỏc ngun lc
t ai v lao ng hin nay?; khuyn khớch u t ca nụng h phỏt trin sn
xut nụng nghip, trỏnh c xu th phỏt trin lch lc?
1.2 Kinh t h nụng dõn v vn nghiờn cu h thng sn xut nụng
nghip BSH
Mt vi s ỏnh giỏ khỏc nhau trờn õy cho thy nhng nghiờn cu v h nụng
dõn BSH tuy nhiu nhng cũn khỏ tn mn. Mi nghiờn cu vi lớ do khỏc nhau
ch tp trung cho mc ớch riờng no ú v phng phỏp ỏp dng cho cỏc nghiờn
cu ny khụng ging nhau. Vỡ th, vic s dng kt qu nghiờn cu cú sn ny cho
mc ớch xõy dng chớnh sỏch phỏt trin nụng nghip, nụng thụn ng bng gp
nhiu khú khn. cú c mt phõn tớch sõu v ton din v cỏc h thng sn xut
v xu th phỏt trin ca n hin nay nhm hoch nh ra nhng chớnh sỏch h tr phỏt
trin tt nht, cn thit phi cú nghiờn cu ỏnh giỏ y v ton din hn i vi
cỏc h thng sn xut nụng nghip hin nay ng bng. Trong ú, yờu cu: (1) Mụ
t c y cỏc h thng sn xut hin nay, (2) Xỏc nh c cỏc yu t nh
hng n s phỏt trin ca cỏc h thng sn xut v (3) cui cựng l xut c
nhng gii phỏp tỏc ng nhm h tr kinh t h nụng dõn BSH.
1
Tham khảo những nghiên cứu thực địa của Bộ môn hệ thống nông nghiệp (ASD), Viện KHKTNN Việt nam
(VASI)
6
Theo chúng tôi để có thể phác hoạ những nội dung cụ thể của để tài, nghiên
cứu phải bám sát vào những điểm cơ bản của lí thuyết kinh tế hộ nông dân. Dưới
đây là một số điểm cần lưu ý đối với nông hộ sản xuất nhỏ:
a. Ứng xử của nông hộ đối với các điều kiện nông học và thị trường:
Đối với sự phát triển của hộ nông dân, không phải chỉ có những điều kiện về
sinh thái, mà cả những mối quan hệ xã hội, quan hệ thị trường cũng có ảnh hưởng
đến sản xuất nông nghiệp và kỹ thuật sản xuất. Trong mỗi vùng, không phải tất cả
các hộ nông dân đều có cùng cách ứng xử đối với sự thay đổi của điều kiện sản xuất
và thị trường.
Đối với nông dân, chỉ tiêu chí phí - hiệu quả của một hệ thống sản xuất là điều
kiện cho phép hộ nông dân có thể tiếp tục phát triển, vì thế nông dân luôn tính đến
những rủi ro trong sản xuất.
- Nếu điều kiện về nông học, kinh tế và khí hậu thất thường, những người sản
xuất khác nhau sẽ có sự đánh giá rủi ro khác nhau. Nếu rủi ro quá lớn, họ sẽ
không đầu tư.
- Nếu điều kiện thị trường không thuận lợi, những người sản xuất sẽ không tập
trung sản xuất ở quy mô lớn và chuyên canh. Mục tiêu sản xuất trước hết là
để tiêu dùng và đáp ứng nhu cầu của hộ.
- Ngược lại, nếu điều kiện thị trường thuận lợi, người sản xuất sẽ tập trung sản
xuất quy mô lớn hơn, chuyên môn hoá để sản xuất ra hàng hoá bán ra thị
trường. Người sản xuất sẽ tính đến lợi thế so sánh và quyết định đầu tư công
nghệ, kỹ thuật cao. Cụ thể, logic đầu tư của nông hộ sẽ là:
o Những người sản xuất sẽ đầu tư nhiều hơn về lao động để tối đa hoá lợi
nhuận trên 1 đơn vị diện tích với điều kiện lao động dư thừa trong khi các
nguồn lợi về tài nguyên thiên nhiên hạn chế (nước, đất…). Các hệ thống sản
xuất mang tính chất thâm canh cao và phát triển đa dạng các hệ thống khác
nhau, kết hợp đồng thời các hoạt động trồng trọt và chăn nuôi cho lợi nhuận
cao.
o Nhưng nếu điều kiện về nguồn lợi tự nhiên thuận lợi, những người sản xuất
lại muốn tối đa hoá thu nhập trên 1 đơn vị lao động.
o Nếu nguồn lao động thuê rẻ, những người chủ trang trại có xu thế sử dụng
các hệ thống sản xuất và kỹ thuật cho phép tối đa hoá lợi nhuận của vốn.
Không giống các loại hình kinh tế khác, quy luật phát triển của kinh tế hộ nông
dân rất đa dạng: Quy luật kinh tế phổ biến nhất trong nông hộ là Quy luật về tính
hợp lí khi ra quyết định trong đó mục tiêu sản xuất các nông hộ sẽ được điều chỉnh
trên cơ sở cân bằng các nguồn lực sẵn có của gia đình (vốn, đất, lao động…). Sau
nữa là Quy luật sinh học của các kiểu hộ khi quan niệm rằng hộ nông dân phát triển
7
theo các giai đoạn khác nhau phụ thuộc vào tuổi của chủ hộ, từ việc mới thiết lập
đến tích tụ phát triển và cuối cùng là giai đoạn phân hoá khi tuổi của chủ hộ đã cao
(Chu kỳ tích tụ và phân hoá ruộng đất của Trai - a - Nốp). Cuối cùng người ta
không thể bỏ qua Quy luật tiến hoá của hộ nông dân từ sản xuất tự cung tự cấp sang
sản xuất hàng hoá, hiện tượng mà chúng ta thấy nhiều trong thực tế.
b. Đất đai đối với nông hộ nhỏ.
Đất đai luôn là vấn đề sống còn của bất kỳ một nông hộ lớn hay nhỏ. Sở hữu
ruộng đất là quan trọng, nhưng đối với các nông hộ nhỏ khả năng tiếp cận được
ruộng đất và vấn đề an toàn của ruộng đất mà hộ đang khai thác lại quan trọng hơn
nhiều. Ngoài những yếu tố về thị trường và các yếu tố nông hộ kể ra trên đây, hai
vấn đề này xác định thái độ của nông hộ đối với việc đầu tư và phát triển. Trong
điều kiện mất an toàn ruộng đất nông dân sẽ không đầu tư và áp dụng các kỹ thuật
quảng canh. Nông hộ nhỏ thường ít điều kiện để mua (tạu) ruộng đất mà chủ yếu là
thừa kế hoặc mượn đổi, lĩnh canh, bởi vậy họ ít quan tâm hơn đến sở hữu. Ruộng
đất không an toàn là những ruộng đất khi tiến hành canh tác, người nông dân có
nguy cơ không thu được hoa lợi trên đó. Như vậy, nguyên nhân mất an toàn ruộng
đất có thể đến từ những rủi do thiên nhiên do đặc điểm của mảnh ruộng đó mang lại,
từ sự không nhất quán về chính sách ruộng đất hoặc rủi ro về hợp đồng thuê mướn,
khả năng bị chiếm đoạt bởi các thế lực xã hội khác nhau… Trong điều kiện của
ĐBSH, Nhà nước đã chia ruộng đất cho nông dân để canh tác, nhưng như thế không
có nghĩa là an toàn ruộng đất đã bảo đảm. Sản xuất nông nghiệp vẫn còn nhiều rủi
ro về thiên tai, mặt khác chính sách ruộng đất còn nhiều điểm chưa thật rõ (nhất là
thời hạn sử dụng đất) và đặc biệt là nguy cơ mất đất do công nghiệp hoá, do đầu cơ,
tham nhũng ruộng đất đe doa nhiều đến an toàn ruộng đất ở một số vùng thuộc đồng
bằng, ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển của các hệ thống sản xuất nông nghiệp.
2. Giới thiệu một số nét chính về báo cáo
Nội dung của báo cáo gồm 5 phần chính:
- Phần I - Giới thiệu nghiên cứu: Giới thiệu bối cảnh nghiên cứu và những vấn
đề tổng quan về kinh tế hộ nông dân ở ĐBSH. Các mục đích và các câu hỏi
nghiên cứu chính của báo cáo cũng được đề cập trong phần này.
- Phần II - Phương pháp nghiên cứu: Giới thiệu các phương pháp nghiên cứu về
kinh tế hộ nông dân và cách tính thu nhập của hộ nông dân. Các phương pháp và
công cụ nghiên cứu được sử dụng trong báo cáo.
- Phần III - Hệ thống canh tác và thu nhập của nông dân: Chỉ ra hiện trạng thu
nhập và xu hướng biến động thu nhập của hộ nông dân ở ĐBSH theo 4 vùng
sinh thái đặc trưng.
- Phần IV - Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập: Phân tích các yếu tố
định tính và định lượng ảnh hưởng đến thu nhập của hộ nông dân ở ĐBSH.
8
- Phần V - Kết luận chung và đề xuất giải pháp: Thảo luận về hiện trạng và cơ
hội nâng cao thu nhập cho các hộ nông dân ở ĐBSH. Đồng thời đề xuất các giải
pháp hỗ trợ nhằm nâng cao thu nhập cho các hộ nông dân ở ĐBSH theo từng
vùng sinh thái.
Điểm nổi bật được ghi nhận trong báo cáo này là đã tiến hành nghiên cứu bao
quát được tại các vùng khác nhau ở trong ĐBSH như vùng ven đô thị, vùng ven
biển, vùng thuần lúa và vùng đa dạng hoá nông nghiệp. Điều này có ý nghĩa vô cùng
quan trọng trong việc đánh giá hiện trạng thu nhập của các hộ nông dân tại các vùng
khác nhau ở ĐBSH và là cơ sở thực tiễn trong việc đề xuất các giải pháp cụ thể
nhằm nâng cao thu nhập cho hộ nông dân. Thông qua các cuộc điều tra khảo sát tại
thực địa, báo cáo cũng góp phần bổ sung các kết quả định tính về hiện trạng thu
nhập của hộ nông dân ở ĐBSH trong thời gian gần đây nhất (năm 2004) mà thời
gian qua chưa có nghiên cứu nào thực hiện.
Bên cạnh đó, những phân tích về thu nhập của hộ nông dân trong báo cáo luôn
được gắn liền với các hệ thống sản xuất của nông hộ ở từng vùng khác nhau. Chính
việc tiếp cận nghiên cứu này đã góp phần quan trọng trong quá trình đánh giá thu
nhập của các hộ nông dân mà các báo cáo khác trước đây không thực hiện được.
Điểm hạn chế của đề tài:
Trước hết, do điều kiện và thời gian nghiên cứu còn nhiều hạn chế nên số mẫu
điều tra còn khá khiêm tốn, 418 hộ. Số mẫu đại diện này là rất ít nếu so với 3,1 triệu
hộ ở ĐBSH và rõ ràng không thể đại diện được đầy đủ hiện trạng thu nhập của hộ
nông dân vùng ĐBSH nói chung.
Bên cạnh đó, do số liệu điều tra thực địa chỉ thể hiện được tình trạng thu nhập
và sản xuất của hộ nông dân tại thời điểm nghiên cứu (năm 2004) do đó không thể
hiện được xu thế biến động thu nhập của hộ nông dân theo hệ thống canh tác qua
từng giai đoạn khác nhau mà chỉ tính được thu nhập của các nhóm hộ theo hệ thống
canh tác khác nhau từ đó so sánh mức thu nhập giữa các nhóm hộ có hệ thống canh
tác khác nhau trên tổng thể các hộ điều tra (có nghĩa, chỉ so sánh mức thu nhập theo
hệ thống canh tác của các nhóm hộ trong cùng một thời điểm, chứ không so sánh
mức thu nhập của hộ trước và sau khi thay đổi hệ thống canh tác. Tuy nhiên, cách
tính này có thể loại trừ ảnh hưởng của các biến động giá vật tư đầu vào và giá sản
phẩm đầu ra qua các năm). Để khắc phục điều này, chúng tôi phải so sánh với các
kết quả nghiên cứu khác từ VLSS 1993, 1998 và VLHSS 2002. Việc so sánh này là
chưa thật hợp lý và chỉ mạng tính tương đối bởi phương pháp nghiên cứu khác nhau.
Do đó chưa có những đánh giá thật cụ thể về xu thế biến động thu nhập của hộ nông
dân qua từng giai đoạn khác nhau. Tuy nhiên, nguồn số liệu này cũng không tách ra
theo hệ thống canh tác nên cũng chỉ nêu lên biến động về thu nhập của hộ chứ
không thể phân tích biến động về thu nhập của hộ theo hệ thống canh tác.
9
Để nghiên cứu thu nhập của các hộ nông dân, việc chọn điểm được tiến hành căn
cứ theo tiêu chí vùng sinh thái. Việc phân vùng nghiên cứu của được thực hiện dựa
trờn bộ số liệu thống kê tương đối đầy đủ của các tỉnh ở ĐBSH những năm gần đây
về các điều kiện sản xuất (đất đai, dân số, mật độ dân số, ) và các điều kiện sinh
thái khác nhau. Kết quả cho thấy, vùng đồng bằng sông Hồng có thể chia ra thành 5
tiểu vùng sinh thái khác nhau. Do điều kiện hạn chế, việc chọn điểm nghiên cứu chỉ
thực hiện được tại 4 tỉnh đại diện cho 4 vùng sinh thái khác nhau dựa trên các kết
quả của việc phân vùng là các tỉnh Hà Tây, Thái Bình và hai tỉnh nằm hai bên sông
Hồng một phía Bắc một phía Nam là Hải Dương và Nam định. Việc chỉ lựa chọn 4
vùng là một hạn chế của nghiên cứu. Tại mỗi tỉnh, 1 huyện có đại diện đặc trưng
nhất so với đặc điểm sinh thái của vùng đó. Việc lựa chọn các tiểu vùng nghiên cứu
(các xã) được tiếp tục lựa chọn bằng cách chọn ra 2 xã đại diện nhất trong huyện.
3. Mục đích nghiên cứu
Mục đích chung của nghiên cứu này là:
(1) Đánh giá hiện trạng các hệ thống sản xuất nông nghiệp và tình hình thu nhập của
hộ nông dân trong các vùng khác nhau ở đồng bằng sông Hồng, đồng thời cũng
chỉ ra được những yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập của họ.
(2) Xác định các yếu tố gây ra sự biến động về thu nhập của hộ nông dân và xu thế
của sự biến động đó cũng như các vấn đề hiện nay mà hộ nông dân ở đồng bằng
sông Hồng gặp phải khi muốn tăng thu nhập.
(3) Đề xuất những giải pháp hỗ trợ nhằm nâng cao thu nhập của người nông dân ở
đồng bằng sông Hồng, khai thác và sử dụng hợp lí nguồn tài nguyên đất đai khan
hiếm.
Mục đích cụ thể nhằm:
- Hệ thống hoá được thông tin về các hệ thống sản xuất nông nghiệp và tình hình
thu nhập của hộ nông dân trong các vùng khác nhau của đồng bằng sông Hồng.
- Xác định được các yếu tố và điều kiện nâng cao thu nhập và thúc đẩy sự phát
triển bền vững và hiệu quả các hệ thống sản xuất nhằm nâng cao thu nhập của
người dân trong vùng đồng bằng sông Hồng.
- Đề xuất được những kiến nghị chính sách nhằm hỗ trợ sự phát triển nông
nghiệp ở đồng bằng sông Hồng nói chung và sự phát triển của các hệ thống sản
xuất nông nghiệp nói riêng theo hướng sản xuất hàng hoá, tăng thu nhập và
bảo vệ nguồn lợi tài nguyên khan hiếm (đất, nước), ngăn chặn những xu thế
biến đổi tiêu cực.
10
4. Giả thiết nghiên cứu
1. Thu nhập của các hộ ở nông thôn trong các vùng khác nhau ở đồng bằng
phụ thuộc không chỉ vào các điều kiện của nông hộ mà cả yếu tố vùng, các
điều kiện, thể chế và chính sách cụ thể về đất đai, thị trường, tình hình kinh
tế xã hội ở mỗi nơi.
2. Mặc dù quy mô diện tích còn nhiều hạn chế nhưng chiến lược của các nông
hộ đã thay đổi thay vì mục tiêu tự cung tự cấp các nông hộ đã tham gia
mạnh vào sản xuất hàng hoá nông sản. Xu thế chuyên môn hoá không mâu
thuẫn với các chiến lược khác nhau như:
a. Tối đa hoá lợi nhuận
b. Tránh mạo hiểm và hoạt động nặng nhọc
c. Giá trị hoá các lợi thế vùng.
Nói cách khác, trong điều kiện của ĐBSH, quy mô kinh tế của nông hộ
không hoàn toàn tỷ lệ thuận với quy mô diện tích của nông hộ.
3. Bên cạnh những hạn chế về ruộng đất và một số nguồn lợi khác, rủi ro
được xem yếu tố hạn chế cơ bản đến sức sản xuất, khả năng phát triển và
hiệu quả kinh tế của các hệ thống sản xuất nông nghiệp hiện nay. Nhóm
yếu tố rủi ro quan trọng cần nghiên cứu bao gồm:
a. Rủi do do thiên tai
b. Rủi ro về ruộng đất (mất an toàn ruộng đất)
c. Rủi ro về thị trường
4. Những chính sách cải cách kinh tế nông nghiệp và nông thôn (chính sách
đất đai, thuế và thuỷ lợi phí, tổ chức sản xuất và khuyến nông ) đã hỗ trợ
tốt cho sự phát triển của các hệ thống sản xuất ở giai đoạn đầu, khi các hệ
thống sản xuất mới chỉ dừng ở mức độ tự cung tự cấp, nhưng chưa hoàn
toàn thích hợp khi các hệ thống sản xuất thay đổi các mục tiêu hướng ra thị
trường.
5. Các câu hỏi nghiên cứu
1. Tình trạng thu nhập hiện nay của các hộ ở nông thôn như thế nào? đặc điểm
phân hoá thu nhập ở nông thôn ra sao? phân ra:
a. Phân giữa các vùng như thế nào (thuần lúa, đang dạng hoá, cận đô,
khác)?
b. Sự phân hoá thu nhập ngay trong một vùng?
11
2. Yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập và sự phân hoá thu nhập của hộ ở thôn
trong ĐBSH là gì? Mối quan hệ của sự phân hoá thu thập và phân hoá
ruộng đất, kinh tế xã hội trong nông thôn như thế nào?
a. Yếu tố gây phân hoá giữa các vùng?
b. Yếu tố gây phân hoá ngay trong một vùng?
c. Mối quan hệ giữa phân hoá về ruộng đất và phân hoá kinh tế và tình
trạng nghèo đói ra sao?
d. Đặc điểm thu nhập của các hộ không đất là như thế nào (bao nhiêu?
nguồn thu từ đâu? tính bền vững và các rủi ro?).
3. Xu thế biến động của thu nhập của các hộ trong nông thôn, yếu tố quyết
định đến sự thay đổi của thu nhập và vai trò của các hệ thống hoạt động đối
với sự biến đổi này trong tương lai?
4. Vai trò của các hệ thống hoạt động phi nông nghiệp trong kinh tế hộ gia
đình? Có hay không sự cạnh tranh lao đông? Tính bền vững của các nguồn
thu nhập phi nông nghiệp?
5. Có hay không hiện tượng mất an toàn về ruộng đất ảnh hưởng đến chiến
lược phát triển của các kiểu hộ nông dân?
a. Hình thức mất an toàn nào? Ở đâu? Mức độ ra sao?
b. Tác động của các hình thức mất an toàn này đến chiến lược đầu tư
và sự phát triển của các kiểu hộ nông dân như thế nào?
6. Những chính sách (nhóm chính sách) nào có thể cải thiện nâng cao thu
nhập của nông dân? tập trung nghiên cứu các nhóm chính sách sau đây: (1)
Chính sách ruộng đất, (2) Chính sách lao động và việc làm, (3) chính sách
vốn, (4) chính sách khoa học công nghệ và (5) chính sách điều tiết thị
trường và tiêu thụ nông sản?
12
PHẦN II: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Phương pháp tiếp cận
2.1.1.Lý thuyết hệ thống
Lý thuyết hệ thống ngày càng được ứng dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực khoa học
để phân tích và giải thích các mối quan hệ tương hỗ. Trong thời gian gần đây quan
điểm này được áp dụng và phát triển trong nghiên cứu nông nghiệp.
Hệ thống được hiểu là một tổng thể có trật tự của các yếu tố khác nhau có quan hệ
và tác động qua lại. Một hệ thống có thể xác định như một tập hợp các đối tượng
hoặc cá thuộc tính được liên kết tạo thành một chính thể và nhờ thế hệ thống có một
đặc tính mới gọi là tính “trội” của hệ thống. Như vậy, hệ thống không phải là phép
cộng đơn giản của các yếu tố, các đối tượng mà là sự kết hợp hữu cơ giữa các yếu tố
và có quan hệ giàng buộc chặt chẽ với nhau.
Ngoài các yếu tố bên trong hệ thống, còn có các yếu tố bên ngoài hệ thống, không
nằm trong hệ thống nhưng có tác động với các yếu tố bên trong hệ thống, gọi là yếu
tố môi trường. Những yếu tố môi trường tác động lên hệ thống là yếu tố “đầu vào”,
còn những yếu tố môi trường chịu sự tác động trở lại của hệ thống là yếu tố “đầu
ra”. Phép biến đổi của hệ thống là khả năng thực tế khách quan của hệ thống trong
việc biến đổi “đầu vào” thành “đầu ra”. Thực trạng của hệ thống là một khả năng kết
hợp giữa yếu tố đầu vào và yếu tố đầu ra của hệ thống trong một thời điểm nhất
định.
Vậy, hệ thống canh tác khả năng kết hợp giữa yếu tố đầu vào và yếu tố đầu ra của
hệ thống canh tác trong một thời điểm nhất định.
Phương pháp nghiên cứu hệ thống là cụ thể hoá quan điểm hệ thống vào trong thực
tiễn nghiên cứu. Trong thực tiễn có 2 phương pháp nghiên cứu hệ thống là:
- Nghiên cứu phát triển hệ thống đã sẵn có, có nghĩa là dùng phương pháp
phân tích hệ thống để tìm ra điểm “hẹp” hay chỗ “thắt lại” của hệ thống. Đó
là chỗ ảnh hưởng không tốt, hạn chế đến quá trình hoạt động của hệ thống,
cần được sửa chữa khai thông để cho hệ thống hoàn thiện hơn, hiệu quả hơn.
- Nghiên cứu xây dựng hệ thống mới. Đây là phương pháp vĩ mô, đòi hỏi có sự
tính toán và đầu tư khá cao.
Đề tài “Phân tích thu nhập của hộ nông dân do thay đổi hệ thống canh tác ở
Đồng bằng sông hồng” sẽ vận dụng phương pháp thứ nhất.
2.1.2. Hệ thống nông nghiệp
Khái niệm về hệ thống trang trại (Farming Systems) đã có từ thế kỷ 19, do nhà
nông học người Đức (Von Walfen) đề xuất khi ông sử dụng “đầu vào” và “đầu
ra” của một nông trại coi là một tổng thể để nghiên cứu vấn đề màu mỡ của đất.
13
Đến năm 1977 Grigg, một nhà địa lý dùng khái niệm hệ thống nông nghiệp
(Agricultural Systems) để phân biệt các kiểu nông nghiệp thế giới.
Các nhà kinh tế nông nghiệp khi nghiên cứu vấn đề quản lý nông trại đã đưa ra
khái niệm về hệ thống sản xuất (Pro ddu ctive Systems) đã coi nông trại như một
sự phối hợp của hệ thống tròng trọt, đồng cỏ, chăn nuôi và quản lý kinh tế.
Ở các nước nói tiến Anh, khái niệm hệ thống Farming Systems đã được sử dụng
rộng rãi với nghĩa là hệ thống nông nghiệp, hệ thống kinh doanh nông nghiệp.
Hệ thống trang trại là sự xắp xếp độc nhất và ổn định một cách hợp lý của các
việc kinh doanh nông nghiệp do hộ nông dân quản lý, tuân theo hoạt động đã
được xác định, tuỳ thuộc vào môi trường vật lý, sinh học, kinh tế, xã hội phù hợp
với mục tiêu, sở thích và nguồn lợi của hộ. Khái niệm về hệ thống trang trại trên
đây cũng gần giống như khái niệm hệ thống sản xuất ở Pháp, cũng tương tự hệ
thống nông nghiệp ở Nga.
Cho đến nay đã có một số khái niệm về hệ thống nông nghiệp như sau:
- Theo Vissac (1986), Hệ thống nông nghiệp là sự Bảng hiện không gian của
sự phối hợp các ngành sản xuất và kỹ thuật do một xã hội thực hiện. Nó Bảng
hiện một sự tác động qua lại giữa một hệ thống sinh học – sinh thái và môi
trường tự nhiên, là đại diện một hệ thống xã hội – văn hoá qua các hoạt động
xuất phát từ những thành quả kỹ thuật;
- Hệ thống nông nghiệp thích ứng với phương thức khai thác nông nghiệp của
một không gian nhất định do xã hội tiến hành là kết quả của sự phối hợp của
các nhân tố tự nhiên, kinh tế - xã hội, văn hoá và kỹ thuật (Touve 1988);
- Mzoyer (1986), Hệ thống nông nghiệp trước hết là một phương thức khai
thác môi trường được hình thành và phát triển trong lịch sử, một hệ thống sức
sản xuất thích ứng với các điều kiện sinh thái, khí hậu của một không gian
nhất định, đáp ứng các điều kiện và nhu cầu của thời điểm ấy.
Tóm lại, khái niệm hệ thống nông nghiệp đã xuất phát từ 2 cách tiếp cận đã được
công nhận rộng rãi, đó là: tiếp cận hệ thống nông trại ở Anh và tiếp cận hệ thống
nông nghiệp ở Pháp. Tuy nhiên, cách tiếp cận nông nghiệp là toàn diện hơn và
phù hợp với sự phát triển.
2.1.3. Hệ thống canh tác
Như đã trình bày ở phần trên, rõ ràng hệ thống nông nghiệp đã đặt hệ thống vật
nuôi, cây trồng vào trong một không gian, thời gian, một điều kiện xã hội nhất
định. Nó là sự phối hợp các nhân tố tự nhiên, kinh tế, xã hội, văn hoá và kỹ
thuật.
Về thực chất hệ thống canh tác đồng nghĩa với hệ thống nông nghiệp. Có một số
định nghĩa về hệ thống canh tác như sau:
14
- Hệ thống canh tác (hệ thống nông trại, hệ thống nông nghiệp) là sự bố trí một
cách thống nhất và ổn định các ngành nghề trong nông trại được quản lý bởi
hộ gia đình trong một môi trường tự nhiên, sinh học, kinh tế, xã hội phù hợp
với mục tiêu, sự mong muốn và nguồn lực của hộ (Shanor Philip và
Sôhmohi, 1981).
- Hệ thống canh tác là sự tập hợp các đơn vị chức năng riêng biệt, đó là các
hoạt động trồng trọt, chăn nuôi, tiếp thị. Các đơn vị đó có mối quan hệ qua lại
với nhau vì cùng dùng chung các nguồn lực nhận từ môi trường. Khái niệm
này thường được dùng với những giới hạn vượt khỏi ranh giới cụ thể của
từng nông trại, đã nói lên những đơn vị nông trại có hình thức tương tự
(IRRI, 1980).
- Hệ thống canh tác là hình thức tập hợp các tổ hợp đặc thù, các tài nguyên
trong nông trại ở mõi môi trường nhất định bằng những phương pháp công
nghệ sản xuất ra những sản phẩm nông nghiệp sơ cấp. Định nghĩa này không
bao gồm hoạt động chế biến vốn thường vượt quá hình thức phổ biến của
nông trại cho những sản phẩm chăn nuôi và trồng trọt riêng biệt (IRRI,
1989).
Từ những định nghĩa trên cho chúng ta một khái niệm chung nhất về hệ thống
canh tác, đó là một hệ thống bao gồm nhiều hệ thống phụ như: trồng trọt, chăn
nuôi, ngành nghề, thậm chí cả tiếp thị. Trong đó, hệ thống trồng trọt là bộ phận
chủ yếu của hệ thống canh tác, cấu trúc của nó quyết định hoạt động của các hệ
thống con khác.
Nghiên cứu hệ thống trồng trọt là một vấn đề phức tạp vì nó liên quan đến nhiều
khía cạnh môi trường như đất đai, khí hậu, thời tiết, sâu bệnh, công nghệ sinh học,
vấn đề hiệu ứng của hệ thống cây trồng. Hiện nay, có nhiều khái niệm về hệ thống
cây trồng:
- Hệ thống cây trồng là thành phần các giống và loài cây được bố trí trong
không gian và thời gian trong mọi hệ thống sinh thái nông nghiệp nhằm tận
dụng hợp lý nhất các nguồn lợi tự nhiên, kinh tế xã hội (Đào Thế Tuấn 1984).
- Hệ thống cây trồng là hình thức đa canh bao gồm: trồng xen, trồng gối, trồng
luân canh, trồng thành băng, canh tác hỗn hợp, vườn hỗn hợp các loại cây.
Hệ thống cây trồng hay công thức luân canh là tổ hợp trong không gian và
thời gian của các cây trồng trên một mảnh đất và các biện pháp canh tác để
sản xuất chùng (Zandazardatra).
Như vậy, hệ thống cây trồng là một thể thống nhất trong mối quan hệ tương tác
giữa các loại cây trồng được bố trí hợp lý trong không gian và thời gian tức là
mối quan hệ giữa các loại cây trồng trong từng vụ và giữa các vụ khác nhau trên
một mảnh đất, trong một hệ sinh thái. Vì vậy, nghiên cứu hệ thống cây trồng là
15
nghiên cứu: công thức luân canh và hình thức đa canh, cơ cấu cây trồng hay tỷ lệ
diện tích dành cho mùa vụ cây trồng nhất định, kỹ thuật canh tác cho cả hệ thống
canh tác đó.
2.1.4. Phát triển hệ thống canh tác
Phát triển hệ thống canh tác (PHC) là một phương pháp tiếp cận nhằm phát triển hệ
thống nông trại và cộng đồng nông thôn trên cơ sở bền vững.
Hệ thống nông trại là các nông hộ, có thể chia thành ba phân hệ cơ bản chúng liên
kết chặt chẽ trong mối tác động qua lại lẫn nhau: (i) Nông hộ như là một đơn vị ra
quyết định; (ii) Trang trại với các hoạt động trồng trọt và chăn nuôi (iii) Các thành
phần ngoài trang trại. Trong phát triển hệ thống canh tác (PHC), hệ thống nông trại
được xem như một thể thống nhất của các hệ thống canh tác chiếm ưu thế trong
cộng đồng nông thôn.
Cộng đồng nông thôn là những hệ thống lớn hơn, bao gồm các nông hộ có hoặc
không có trang trại. Các hệ thống nông hộ không trang trại lại bao gồm nhiều phân
hệ. Chúng liên kết và tác động chặt chẽ lẫn nhau. Các nhà buôn lớn, những người
buôn bán lẻ, các nhóm xã hội, các cơ quan nhà nước, cơ cấu lãnh đạo, chính kiến và
tôn giáo, vv Tất cả đều thuộc hệ thống ngoài nông trại. Hệ thống nông trại thường
tham gia và có tác động qua lại với một vài hay toàn bộ các hệ thống này.
Nông trại là hệ thống chủ yếu và là tâm điểm tập trung nghiên cứu phát triển hệ
thống canh tác.
Hệ thống nông trại gồm 3 phân hệ, chúng có mối liên hệ và tác động qua lại nhau rất
chặt chẽ:
1. Hộ gia đình, là đơn vị ra quyết định, nó thiết lập các mục tiêu cho hệ thống,
điều khiển sự hoạt động của hệ thống, phân phối sử dụng lao động, nhu cầu
lương thực và tiền mặt để thoả mãn các mục tiêu đề ra.
Hệ thống nông trại

16
Nông hộ
Trang
trại
Ngoài
trang trại
2. Trang trại cùng với các hoạt động trồng trọt và chăn nuôi của nó, cung cấp
việc làm, lương thực tiền mặt cho nông trại.
3. Các hoạt động phi nông nghiệp, cạnh tranh với các hoạt động nông nghiệp về
lao động, nó cung cấp việc làm và các hoạt động tạo thu nhập thêm; đang trở
thành ngày một quan trọng hơn trong việc bổ xung cho phúc lợi gia đình
người nông dân.
Có thể BiÓu diễn hệ thống nông trại ở sơ đồ dưới:
Phân tích hệ thống canh tác phải bao gồm cả sự hiểu biết về các điều kiện môi
trường
Hệ thống nông trại và moi trường bao quanh nó
Chúng ta đã thấy rằng, phân tích canh tác phải bao gồm cả sự hiểu biết về các điều
kiện môi trường có ảnh hưởng đến quá trình quyết định của nông hộ. Hệ thống nông
trại không phải là một hệ cô lập mà chúng là một phần và chịu ảnh hưởng của hệ
thống khác của các điều kiện và môi trường xung quanh: môi trường vật lý, văn hoá
xã hội, thể chế chinh sách, Trên thực tế, ảnh hưởng của một hệ thống nông trại
đơn lẻ đến các hệ thống và môi trường thường là rất nhỏ. Vì thế, chúng được xác
định trên phạm vi rộng về cả những yếu tố hạn chế và tiềm năng phát triển của hệ
thống nông trại.
Môi trường bao quanh bao gồm: (i) Môi trường vật lý (khí hậu, đất, địa hình, nước,
thực vật, cơ sở hạ tầng (đường sá, cầu cống, ); (ii) Môi trường văn hoá – xã hội,
bao gồm: cộng đồng (mối liên kết huyết thống, làng xã, phường hội, sắc tộc, sự
phân tầng xã hội, sự phụ thuộc lẫn nhau), văn hoá (tín ngưỡng, quan điểm/thái độ,
truyền thống); (iii) Môi trường chính sách và thể chế, bao gồm:
- Các phạm vi của chính sách: các ưu tiên phát triển, nông nghiệp (khuyến
khích xuất khẩu, thay thế nhập khẩu, tiếp cận thị trường, khuyến khích các
thành phần kinh tế), chính sách công nghiệp, cơ sở hạ tầng, dịch vụ, dịch vụ,
giáo dục, chăm lo sức khoẻ, việc làm, các vấn đề quốc gia và khu vực ;
- Cơ cấu tổ chức của chính sách: cấu trúc chính sách, sự tham gia lập kế hoạch,
thực hiện kế hoạch;
- Cơ cấu pháp lý: quyền làm chủ các điều khiển các nhân tố sản xuất, quyền
làm chủ điều khiển các quá trình sản xuất;
- Nghiên cứu và khuyến nông: hướng tới thị trường, nghiên cứu hệ thống canh
tác, nghiên cứu phát triển khu vực hoá, khuyến nông;
- Dịch vụ nông nghiệp: tổ chức và quản lý của các tổ chức tiếp thị, tín dụng,
cung ứng đầu vào cho sản xuất, vv
17
2.1.5. Chuyển đổi hệ thống canh tác
Chuyển đổi hệ thống canh tác là một trong những nội dung chủ yếu của chuyển dịch
cơ cấu kinh tế nông nghiệp, kinh tế nông thôn nói chung.
Trong nông nghiệp cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng giảm tỷ trọng sản xuất
trồng trọt, chuyển sang sản xuất chăn nuôi, thuỷ sản và dịch vụ nông nghiệp. Trong
trồng trọt sự chuyển dịch cơ cấu diễn ra theo hướng giảm tỷ lệ sản xuất cây lương
thực chuyển dần sang sản xuất cây thực phẩm, công nghiệp ngắn, dài ngày và cây ăn
quả. Rõ ràng, để thực hiện quá trình chuyển đổi đó, chuyển đổi hệ thống canh tác là
trọng tâm của chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp.
Chuyển đổi hệ thống canh tác là thực hiện một bước chuyển từ trạng thái hiện trạng
của hệ thống sang một trạng thái hệ thống mới mà mình mong muốn đáp ứng yêu
cầu chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn. Thực chất của chuyển đổi hệ thống canh
tác là một biện pháp nhằm thúc đẩy hệ thống canh tác phát triển.
Vì vậy, có thể nói chuyển đổi hệ thống canh tác hiện nay là phát triển hệ thống canh
tác trong điều kiện môi trường kinh tế - xã hội mới mà nền kinh tế thị trường đã và
đang tác động đến nông nghiệp.
Chuyển đổi hệ thống canh tác là phát triển hệ thống canh tác mới trên cơ sở cải tiến
hệ thống canh tác hiện tại hoặc phát triển hệ thống canh tác tiến bộ để khai thác có
hiệu quả hơn tiềm năng đất đai, lao động và vốn, nâng cao tỷ suất hàng hoá với một
hệ sinh thái bền vững.
2.1.6. Những nhân tố ảnh hưởng đến chuyển đổi hệ thống canh tác
 Nhóm nhân tố tự nhiên
Theo HG Zandstra của viện IRRI thì nghiên cứu hệ thống canh tác với mục đích
chủ yếu là làm tăng lợi nhuận cây trồng và hệ thống cây trồng trong sản xuất từ
những tài nguyên sẵn có. Theo ông để tăng sản lượng hệ thống canh tác là sự
phát triển cây trồng, mà sự phát triển của cây trồng lại phụ thuộc vào điều kiện
môi trường tự nhiên và công tác quản lý, tức là sự xắp xếp cây trồng thành mô
hình canh tác. Rõ ràng điều kiện môi trường tự nhiên là yếu tố quyết định đến sự
hình thành và phát triển hệ thống canh tác.
Môi trường tự nhiên gồm nhiều yếu tố như: khí hậu, thời tiết, đất đai, thuỷ văn,
địa hình, vv Đó cũng chính là yếu tố cơ bản bản làm căn cứ để bố trí sản xuất
cây trồng gì?, Con nuôi nào? Mô hình sản xuất ra sao? để cây trồng, vật nuôi
sinh trưởng và phát triển tốt tạo ra năng suất và hiệu quả kinh tế cao.
 Nhân tố kinh tế - kỹ thuật
Nhân tố kinh tế - kỹ thuật có nhiều như: cơ sở hạ tầng, sự phát triển lực lượng
sản xuất, chất lượng lao động, thị trường và chính sách kinh tế vĩ mô của nhà
nước, vv Tất cả những nhân tố đó tác động đến sự lựa chọn và phát triển hệ
18
thống canh tác. Trong tất cả các nhân tố kinh tế - kỹ thuật, nhân tố thị trường là
nhân tố bao trùm nhất. Bởi vì, theo kinh tế học hiện đại chỉ có thị trường mới
cho người sản xuất biết được nên sản xuất cái gì, cây gì, con gì, cho đối tượng
nào để có được thu nhập cao.
Chính sách kinh tế vĩ mô có tác dụng thúc đẩy hay kìm hãm sản xuất hàng hoá,
thúc đẩy hay kìm hãm chuyển đổi hệ thống canh tác. Theo Frank Ellis có 8 chính
sách nông nghiệp ảnh hưởng trực tiếp đến sản xuất nông nghiệp trong các nước
đang phát triển. Frank Ellis đã phân tích sâu sắc 8 chính sách nông nghiệp đó và
chỉ ra ảnh hưởng của nó đến phát triển nông nghiệp ở các nước đang phát triển.
Đặc biệt các dẫn chứng của ông đều dựa trên những tác động của chính sách này
tới việc phát triển hệ thống canh tác, đó là: chính sách giá cả, marketing, vật tư
đầu vào, tín dụng, cơ giới hoá, đất đai, nghiên cứu và tưới tiêu.
Các nhân tố kỹ thuật được Bảng hiện là những tiến bộ khoa học kỹ thuật đưa vào
sản xuất thông qua các tổ chức khoa học và kinh tế trong quá trình chuyển giao
có ảnh hưởng lớn đến chuyển đổi hệ thống canh tác. Tiến bộ khoa học - kỹ thuật
mà trước hết là những thành tựu khoa học về sinh vật (như giống cây trồng, gia
súc, các thành tựu về công nghệ gieo trồng, chăm sóc) có chất lượng cao, sản
phẩm sản xuất ra được thị trường chấp nhận sẽ kích thích chuyển đổi hệ thống
canh tác nhanh hơn.
Hiện nay, hộ nông dân đã trở thành đơn vị kinh tế tự chủ tương đối độc lập với
các tổ chức kinh tế nhà nước, họ tự ra quyết định và tự chịu trách nhiệm trước
kết quả sản xuất kinh doanh của họ. Tuy nhiên, sản xuất của hộ nông dân sẽ gặp
khó khăn nếu như không có các tổ chức kinh tế hỗ trợ cho nông dân “đầu vào”
và “đầu ra”. Vì vậy, chuyển đổi hệ thống canh tác trong các hộ, nông trại phụ
thuộc rất nhiều vào vai trò hỗ trợ của nhà nước mà trước hết là các tổ chức
khuyến nông nhà nước. Ở nơi nào mà tổ chức khuyến nông hoạt động hiệu quả,
các tiến bộ kỹ thuật được nông dân chấp nhận sẽ là yếu tố thuận lợi thúc đẩy
chuyển đổi hệ thống canh tác, ngược lại sẽ hạn chế rất lớn.
2.2.Kinh tế hộ nông dân
2.2.1.Hộ nông dân và kinh tế hộ nông dân
Hộ nông dân là đối tượng nghiên cứu chủ yếu của khoa học nông nghiệp và
phát triển nông thôn, vì tất cả các hoạt động nông nghiệp và phi nông nghiệp ở nông
thôn chủ yếu được thực hiện qua sự hoạt động của hộ nông dân.
Hộ nông dân là những hộ chủ yếu hoạt động nông nghiệp theo nghĩa rộng bao
gồm cả nghề rừng, nghề cá, và hoạt động phi nông nghiệp ở nông thôn. Trong các
hoạt động phi nông nghiệp khó phân biệt các hoạt động có liên quan với nông
nghiệp và không có liên quan với nông nghiệp. Cho đến gần đây có một khái niệm
19
rộng hơn là hộ nông thôn, tuy vậy giới hạn giữa nông thôn và thành thị cũng là một
vấn đề còn tranh luận.
Khái niệm hộ nông dân gần đây được định nghĩa như sau: "Nông dân là các
nông hộ thu hoạch các phương tiện sống từ ruộng đất, sử dụng chủ yếu lao động gia
đình trong sản xuất nông trại, nằm trong một hệ thống kinh tế rộng hơn, nhưng về
cơ bản được đặc trưng bằng việc tham gia một phần trong thị trường hoạt động với
một trình độ hoàn chỉnh không cao" (Ellis - 1988).
Hộ nông dân có những đặc điểm sau:
- Hộ nông dân là một đơn vị kinh tế cơ sở vừa là một đơn vị sản xuất vừa là
một đơn vị tiêu dùng.
- Quan hệ giữa tiêu dùng và sản xuất Bảng hiện ở trình độ phát triển của hộ
tự cấp, tự túc. Trình độ này quyết định quan hệ giữa hộ nông dân và thị trường.
Các hộ nông dân ngoài hoạt động nông nghiệp còn tham gia vào hoạt động phi
nông nghiệp với các mức độ rất khác nhau.
Lý thuyết về doanh nghiệp gia đình nông dân, coi hộ nông dân là một doanh
nghiệp không dùng lao động làm thuê, chỉ sử dụng lao động gia đình. Do đó các
khái niệm kinh tế thông thường không áp dụng được cho kiểu doanh nghiệp này. Do
không thuê lao động nên hộ nông dân không có khái niệm tiền lương và tiếp theo là
không thể tính được lợi nhuận, địa tô và lợi tức. Hộ nông dân chỉ có thu nhập chung
của tất cả hoạt động kinh tế của gia đình là giá trị sản lượng hàng năm trừ đi chi phí.
Mục tiêu của hộ nông dân là có thu nhập cao không kể thu nhập ấy do nguồn gốc
nào, trồng trọt, chăn nuôi, ngành nghề, đó là kết quả chung của lao động gia đình.
Khái niệm gốc để phân tích kinh tế gia đình là sự cân bằng lao động - tiêu dùng
giữa sự thoả mãn các nhu cầu của gia đình và sự nặng nhọc của lao dộng. Giá trị sản
lượng chung của hộ gia đình trừ đi chi phí sẽ là giá trị sản lượng thuần mà gia đình
sử dụng cho tiêu dùng, đầu tư tái sản xuất và tích luỹ. Người nông dần không tính
giá trị tiền công lao động đã sử dụng, mà chỉ lấy mục tiêu là có thu nhập thuần cao.
Bởi vậy, muốn có thu nhập cao hơn thì các hộ nông dân phải tăng thời gian lao động
của gia đình. Số lượng lao động bỏ ra gọi là trình độ tự bóc lột của lao dộng gia
đình. Mỗi một hộ nông dân cố gắng đạt được một thu nhập thoả mãn nhu cầu thiết
yếu bằng cách tạo một sự cân bằng giữa mức độ thoả mãn nhu cầu của gia đình với
mức độ nặng nhọc của lao động. Sự cân bằng này thay đổi theo thời gian, theo quy
luật sinh học do tỷ lệ giữa Người tiêu dùng và Người lao động quyết định. Một hộ
nông dân sau khi một cặp vợ chồng cươí nhau và ra ở riêng, đẻ con thì Người tiêu
dùng tăng lên, gia đình gặp khó khăn, nhưng dần dần con cái lớn lên số lao động
tăng thêm, gia đình trở nên khá hơn. Đến lúc con lớn lên thành lập hộ mới thì chu kỳ
bắt đầu lại từ đầu. Sự cân bằng này phụ thuộc rất nhiều yếu tố tự nhiên và kinh tế -
xã hội mà tác giả đã nghiên cứu rất kỹ. Chính nhờ quy luật này mà các doanh
20
nghiệp gia đình có sức cạnh tranh mạnh hơn các nông trại tư bản chủ nghĩa vì trong
điều kiện mà nông trại lớn phá sản thì hộ nông dân làm việc nhiều giờ hơn, chịu bán
sản phẩm rẻ hơn, không tính đến lãi, hạn chế tiêu dùng để qua được các thời kỳ khó
khăn.
2.2.2.Động thái kinh tế hộ nông dân
Nền kinh tế nông dân vẫn tồn tại như một hình thái sản xuất đặc thù nhờ các đặc
điểm:
- Khả năng của nông dân thoả mãn nhu cầu của tái sản xuất đơn giản nhờ sự kiểm
soát tư liệu sản xuất, nhất là ruộng đất. Nhờ giá trị xã hội của nông dân hướng
vào quan hệ qua lại hơn là vào việc đạt lợi nhuận cao nhất.
- Nhờ việc chuyền giao ruộng đất từ thế hệ này sang thế hệ khác chống lại sự tập
trung ruộng đất vào tay một số ít nông dân.
- Khả năng của nông dân thắng được áp lực của thị trường bằng cách tăng thời
gian lao động vào sản xuất (khả năng tự bóc lột sức lao động).
- Đặc trưng của nông nghiệp không thu hút việc đầu tư vốn do có tính rủi ro cao
và hiệu quả đầu tư thấp.
- Khả năng của nông dân kết hợp được hoạt động nông nghiệp và phi nông nghiệp
để sử dụng hết lao động và tăng thu nhập. Tuy vậy, ở tất cả các xã hội nền kinh
tế nông dân phải tìm cách để tồn tại trong các điều kiện rất khó khăn do áp lực
của các chế độ hiện hành gây ra.
- Việc huy động thặng dư của nông nghiệp để thực hiện các lợi ích của toàn xã hội
thông qua địa tô, thuế và sự lệch lạc về giá cả. Các tiến bộ kỹ thuật làm giảm giá
trị của lao động nông nghiệp thông qua việc làm giảm giá thành và giá cả của
sản phẩm nông nghiệp. Vì vậy, nông dân chỉ còn có khả năng tái sản xuất đơn
giản nếu không có sự hỗ trợ từ bên ngoài.
Mục tiêu sản xuất của hộ quyết định sự lựa chọn sản phẩm kinh doanh, quyết
định mức độ đầu tư, phản ứng với giá cả vật tư, lao động và sản phẩm của thị trường
Như vậy, sản xuất của hộ nông dân tiến hoá từ tình trạng tự cấp sang sản xuất
hàng hoá ở các mức độ khác nhau. Trong quá trình tiến hoá ấy hộ nông dân thay đổi
mục tiêu và cách thức kinh doanh cũng như phản ứng với thị trường.
Hộ nông dân hoàn toàn tự cấp theo lý thuyết của Tchayanov có mục tiêu tối
đa hoá lợi ích. Lợi ích ở đây là sản phẩm cần để tiêu dùng trong gia đình. Người
nông dân phải lao động để sản xuất lượng sản phẩm cho đến lúc không đủ sức để
sản. xuất nữa, do vậy nông nhàn (thời gian không lao động) cũng được coi như một
lợi ích. Nhân tố ảnh hưởng nhất đến nhu cầu và khả năng lao động của hộ là cấu
trúc dân số của gia đình (Tỷ lệ giữa tay làm và miệng ăn).
21
Hộ nông dân tự cấp hoạt động như thế nào còn phụ thuộc vào các điều kiện
sau:
Khả năng mở rộng diện tích (có thể bằng tăng vụ) có hay không:
- Có thị trường lao động không, vì Người nông dân có thể bán sức lao động
để tăng thu nhập nếu có chi phí cơ hội của lao động cao.
- Có thị trường vật tư không vì có thể tăng thu nhập bằng cách đầu tư thêm
một ít vật tư (nếu có tiền để mua và có lãi).
- Có thị trường sản phẩm không vì Người nông dân phải bán đi một ít sản
phẩm để mua các vật tư cần thiết hay một số hàng tiêu dùng khác.
Trong các điều kiện này người nông dân có phản ứng một ít với thị trường,
nhất là thị trường lao động và thị trường vật tư.
Tiến lên một bước nữa, hộ nông dân bắt đầu phản ứng với thị trường, tuy
vậy mục tiêu chủ yếu vẫn là tự cấp. Đây là kiểu hộ nông dân “nửa tự cấp” có tiếp
xúc với thị trường sản phẩm, thị trường lao động, thị trường vật tư. Hộ nông dân
thuộc kiểu này vẫn chưa phải một xí nghiệp kiểu tư bản chủ nghĩa hoàn toàn phụ
thuộc vào thị trường. Các yếu tố tự cấp vẫn còn lại rất nhiều và vẫn quyết định cách
sản xuất của hộ. Vì vậy, trong điều kiện này nông dân có phản ứng với giá cả, với
thị trường chưa nhiều. Tuy vậy, thị trường ở nông thôn là những thị trường chưa
hoàn chỉnh, đó đây vẫn có những giới hạn nhất định.
Cuối cùng đến kiểu hộ nông dân sản xuất hàng hoá là chủ yếu: Người nông
dân với mục tiêu tối đa hoá lợi nhuận từ các hoạt động kinh doanh của gia đình.
Kiểu nông dân này phản ứng với thị trường vốn, thị trường ruộng đất, thị trường vật
tư, lao động và thị trường sản phẩm. Tuy vậy, giả thiết rằng Người nông dân là
người sản xuất có hiệu quả không được chứng minh trong nhiều công trình nghiên
cứu. Điều này, có thể giải thích do hộ nông dân thiếu trình độ kỹ thuật và quản lý,
do thiếu thông tin thị trường, do thị trường không hoàn chỉnh. Đây là một vấn đề
đang còn tranh luận. Vấn đề ở đây phụ thuộc vào trình độ sản xuất hàng hoá, trình
độ kinh doanh của nông dân.
2.3. Thu nhập và cách tính thu nhập của hộ nông dân
2.3.1 Cách tính thu nhập
Năng suất của lao động được thể hiện qua chỉ tiêu: Giá trị gia tăng thuần/lao
động/năm.
Giá trị gia tăng thuần là giá trị mới được tạo ra bỏi hộ nông dân trong một quá
trình sản xuất.
Để chọn các thời điểm khởi đầu và kết thúc cho một quá trình sản xuất thì
thường phải chú ý tới một chu kỳ sản xuất. Nếu muốn so sánh nhiều hệ thống sản
22
xuất khác nhau thì bắt buộc phải chọn cùng một quá trình sản xuất. Thường ta có thể
chọn 1 năm sản xuất làm chu kỳ tính toán.
Để tính toán giá trị gia tăng thuần tạo ra bởi hộ nông dân thì phải biết giá trị
của sản xuất hay Tổng sản phẩm (PB) của hộ (cả phần bán đi và phần giữ lại cho
hộ).
Thực ra sản phẩm của hộ trong một chu kỳ sản xuất không được bán đi toàn
bộ:
- Một phần được giữ lại cho tiêu dùng của gia đình: đây là phần tự tiêu mà
chúng ta sẽ tính trong sản phẩm của hộ với giá mà lẽ ra sản phẩm này đã bán được.
- Một phần được giữ lại để cho tiêu dùng gia đình hoặc có thể không được bán
hết toàn bộ vào cuối chu kỳ sản xuất. Như vậy, cũng có thể có một số sản phẩm
được bán trong vòng chu kỳ sản xuất nghiên cứu lại là sản phẩm của năm trước tích
trữ lại.
Để tính toán Tổng sản phẩm trồng trọt, chỉ cần tính cho từng cây trồng của
hộ trong chu kỳ sản xuất trên cơ sở xác định:
Diện tích gieo trồng của cây trồng * năng suất trên đơn vị diện tích * giá
đơn vị sản phẩm của cây trồng.
Để tính toán Tổng sản phẩm chăn nuôi, phải tính toán sự tăng trưởng của đàn
ngay cả khi sự tăng trưởng này chưa mang lại thu nhập bằng tiền mặt trước mắt.
Một phần của sự tăng trưởng này có thể do mua gia súc từ bên ngoài như vậy
không phải là sản phẩm của hộ. Nhưng trái lại nếu một phần đàn gia súc bị bán đi
trong vòng chu kỳ sản xuất thì đây là sản phẩm của hộ.
Vậy, chúng ta có thể tính sản phẩm chăn nuôi như sau: Giá trị sản phẩm chăn
nuôi được gia đình tiêu dùng trong chu kỳ + phần bán của các sản phẩm từ chăn
nuôi như (sữa, trứng…) + Giá trị của số gia súc (bán – mua) + (giá trị của đàn
gia súc vào cuối chu kỳ sản xuất – giá trị của đan gia súc đầu chu kỳ).
Để có được các sản phẩm này, nông dân phải sử dụng các hàng hoá và dịch vụ
đi mua từ bên ngoài: giống, phân bón, một phần thức ăn gia súc, nước, năng lượng,
các dịch vụ khác đã được sản xuất ra bởi các cơ sở sản xuất khác. Người ta gọi các
yếu tố này là Chí phí trung gian (CI) bởi vì đây là các hàng hoá dành để đưa vào
trong một quá trình sản xuất khác và chúng sẽ bị tiêu thụ toàn bộ trong vòng một
chu kỳ sản xuất. Các hàng hoá và dịch vụ này sẽ bị biến đổi nhờ vào lao động và các
phương tiện sản xuất của hộ để thành những hàng hoá khác có giá trị cao hơn. Vì
thế Giá trị gia tăng cho thấy sự đóng góp riêng của hộ vào giá trị của sản phẩm.
Giá trị gia tăng thô (VAB) = Giá trị tổng sản phẩm - Ghi phí trung gian
23
Nhưng có những hàng hoá khác cũng mua từ bên ngoài và được sử dụng trong quá
trình sản xuất như công cụ sản xuất, các đầu tư cải tạo ruộng đất, các vườn cây
cũng là một phần của phương tiện sản xuất, được gọi là Vốn cố định và không được
tiêu thụ toàn bộ trong vòng một chu kỳ sản xuất mà nó được dùng trong vòng nhiều
năm. Trong quá trình sử dụng các yếu tố này bị mất dần giá trị qua nhiều chu kỳ sản
xuất.
Người ta gọi Khấu hao là một phần của giá trị của Vốn cố định được phân chia
hàng năm vào trong giá trị của sản phẩm và kéo dài trong suốt thời gian sử dụng của
những hàng hoá này.
Ví dụ, đối với một công cụ có thời gian sử dụng chắc chắn trong 10 năm, ta tính
khấu hao bằng 1/10 giá trị thay thế của công cụ này. Thường ta cần biết giá trị của
cùng loại tài sản nếu phải mua mới tại thời điểm nghiên cứu để làm giá trị tính khấu
hao.
Người ta phân biệt Giá trị tăng thuần (VAN) và Giá trị tăng thô tuỳ theo ta đã trừ
hay chưa giá trị toàn bộ của khấu hao.
GIÁ TRỊ GIA TĂNG THÔ = GIÁ TRỊ TỔNG SẢN PHẨM - CHI PHÍ
TRUNG GIAN
GIÁ TRỊ GIA TĂNG THUẦN = GIÁ TRỊ TĂNG THÔ – GIÁ TRỊ KHẤU
HAO
Giá trị tăng thuần/lao động cho biết năng suất lao động của hộ.
(Người ta gọi là năng suất được Bảng hiện của lao động và ta chỉ chia giá trị gia
tăng theo một yếu tố duy nhất là lao động mà không tính toán tới vốn. Ta cũng có
thể tính theo cùng cách đối với vốn: năng suất Bảng thị của vốn bởi quan hệ Giá trị
gia tăng thuần / Vốn của hộ).
Giá trị gia tăng là một kết quả quan trọng bởi vì nó cho phép so sánh hoạt động có
hiệu quả cao giữa các hộ mà không cần phải xem xét sự phân chia của giá trị sản
phẩm.
Cần phải chú ý là bằng phương pháp tính của nó thì giá trị gia tăng thuần thể hiện cả
tình trạng của giá cả nông nghiệp. Ví dụ một Giá trị gia tăng cao có thể là do một
chính sách bảo trợ giá hay chính sách “đóng cửa” trong xuất nhập khẩu đặc biệt
thuận lợi cho một vài sản phẩm. Theo phương pháp tính này thì sẽ gặp phải khó
khăn trong việc so sánh trên quy mô quốc tế các sức sản xuất do chính sách kinh tế
của các nước khác nhau.
Sự phân bổ Giá trị gia tăng:
Tính Thu nhập nông nghiệp thuần (RAN)
24
Trong thực tế Giá trị gia tăng thuần sản xuất ra được phân chia tiếp theo giữa các tác
nhân có quan hệ trong quá trình sản xuất: hoặc là vì họ có một phần của vốn sử
dụng, hoặc bởi vì họ đã tham gia sản xuất trực tiếp trong hộ nông dân. Nhà nước
cũng trích ra dưới dạng thuế một phần của Giá trị gia tăng thuần:
Giá trị gia tăng thuần cũng được huy động để chi trả các khoản:
- Tiền thuê đất trả cho các chủ sở hữu đất ngoài hộ nông dân.
- Chi phí tài chính trả cho Ngân hàng đã cho vay vốn.
- Các loại thuế liên quan đến sản xuất trả cho Nhà nước và cho các Tổ chức
nghiệp đoàn.
Ta có thể gọi Phần của giá trị gia tăng là phần còn lại của Giá trị gia tăng thuần
cho gia đình sau khi đã thực hiện các khoản nộp nói trên.
Ta chỉ có thể đánh giá chức năng thứ nhất của hộ nông dân là nuôi sống các thành
viên làm việc trong hộ bằng cách xem xét khả năng của hộ về tái sản xuất khi
nghiên cứu quan hệ Phần của giá trị gia tăng/Tổng số người lao động (đi thuê và gia
đình).
Nếu hộ nông dân sử dụng lao động làm công thì một phần của Phần của giá trị gia
tăng sẽ dùng để trả thù lao cho sức lao động của họ. Phần còn lại cho chủ hộ là Thu
nhập thuần nông nghiệp.
THU NHẬP THUẦN NÔNG NGHIỆP = GIÁ TRỊ GIA TĂNG THUẦN -
TIỀN THUÊ ĐẤT - LÃI TIỀN VAY - THUẾ CÁC LOẠI - LƯƠNG CỦA LAO
ĐỘNG LÀM THUÊ.
Với Thu nhập thuần nông nghiệp, nông dân không chỉ phải thù lao cho lao
động gia đình mà còn phải tích luỹ vốn cho hộ (đảm bảo tái sản xuất mở rộng).
Trong thực tế, chúng ta biết rằng nếu nông dân tự bằng lòng với tái sản xuất giản
đơn hay không tích luỹ thì hộ sẽ bị giảm sức sản xuất và giảm sức mua.
Thu nhập thuần nông nghiệp cho chúng ta biết một chỉ số phụ về khả năng tái
sản xuất của hộ nông nghiệp.
Không nên quên rằng các kết quả này chỉ đặc trưng cho một thời điểm nào đó
của một hệ thống sản xuất chứ không đặc trưng hoá động thái phát triển của hệ
thống này. Động thái là một yếu tố không thể thiếu được trong việc chẩn đoán một
hệ thống sản xuất.
Nghiên cứu sự phân chia của Giá trị gia tăng thuần trong hộ nông dân hay từ
hộ tới các tác nhân kinh tế khác cho chúng ta những thông tin quý giá về những mối
quan hệ xã hội tồn tại trong một xã hội.
25