Tài liệu Ảnh hưởng của nhiệt độ đối với sinh vật pptx



Ảnh hưởng của nhiệt độ đối
với sinh vật


- Ý nghĩa của nhiệt độ :
Nhiệt độ trên trái đất phụ thuộc vào năng
lượng mặt trời và thay đổi theo vĩ độ
(theo vùng địa lý và theo chu kỳ
trong năm).
Nhiệt độ là nhân tố khí hậu có ảnh
hưởng rất lớn đến sinh vật, nhiệt độ
tác động trực tiếp hoặc gián tiếp đến quá
trình sống của sinh vật (sự sinh trưởng,
phát triển, sinh sản ), đến sự phân
bố của các cá thể, quần thể và quần
xã.
Sự khác nhau về nhiệt độ trong không
gian và thời gian đã tạo ra những nhóm
sinh thái có khả năng thích nghi khác
nhau. Nhiệt độ còn ảnh hưởng đến các
yếu tố khác của môi trường như độ ẩm
không khí, độ ẩm đất
Trong khí hậu nông nghiệp và sinh thái
học hiện đại, theo mức độ đáp ứng nhiệt
của sinh vật, mà người ta chia ra 4 đới
nhiệt cơ bản :
1. Nhiệt đới: Nhiệt độ không thấp
hơn 0
0
C (ngoại trừ những vùng núi
cao). Nhiệt độ trung bình tháng lạnh
nhất 15 - 20
0
C. Nhiệt độ phân bố đều
trong năm, dao động không quá 5
0
C.
2. Cận nhiệt đới (á nhiệt đới): Nhiệt
độ tháng lạnh nhất không quá 4
0
C,
tháng nóng nhất cao hơn 20
0
C. Nhiệt độ
tối thiểu có khi xuống dưới 0
0
C nhưng
không phải hàng năm.
3. Ôn đới : Thực vật sinh trưởng vào
mùa hè, mùa đông nghỉ. Thời gian
không có tuyết khoảng 70 - 80 ngày.
Mùa đông có tuyết dày.
4. Hàn đới (đới lạnh) : Mùa sinh trưởng
của thực vật chỉ 1,5 - 2 tháng, hầu như
lúc nào cũng lạnh.
- Tác động của nhiệt độ lên sinh vật.
Ở sinh vật có hai hình thức trao đổi nhiệt
:
+ Các sinh vật tiền nhân (vi khuẩn, vi
khuẩn lam), Protista, nấm, thực vật, động
vật không xương sống, cá, lưỡng thê, bò
sát không có khả năng điều hòa nhiệt độ
cơ thể, do đó nhiệt độ cơ thể phụ thuộc
vào nhiệt độ môi trường và luôn biến
động. Người ta gọi nhóm sinh vật này là
sinh vật biến nhiệt (Poikilotherm) hay
nhóm ngoại nhiệt (Ectotherm).
+ Các sinh vật có tổ chức cao như các
loài động vật chim, thú nhỏ sự phát triển
hoàn chỉnh cơ chế điều hòa nhiệt độ và
sự hình thành trung tâm điều hòa nhiệt ở
não đã giúp chúng duy trì được nhiệt độ
cực thuận thường xuyên của cơ thể,
không phụ thuộc vào nhiệt độ của môi
trường ngoài. Người ta gọi nhóm động
vật này là động vật đẳng nhiệt (động vật
máu nóng) (Homeotherm) hay nhóm
nội nhiệt (Endotherm), chúng điều
hoà nhiệt nhờ sự sản sinh nhiệt từ bên
trong cơ thể của mình.
Trung gian giữa hai nhóm này có nhóm
thứ ba, các loài sinh vật thuộc nhóm này
vào thời kỳ không thuận lợi chúng ngủ
hoặc ngừng hoạt động, nhiệt độ cơ thể hạ
thấp nhưng không bao giờ xuống dưới 10
- 13
0
C.
Nhóm này gồm một số loài gặm nhắm
như sóc đất, sóc mác mốt, nhím, chuột
sóc, chim én, dơi, chim hút mật.
Khoảng dao động nhiệt độ trên bề mặt hà
nh tinh đạt trên 1000
0
C, nhưng sự sống
chỉ có thể tồn tại trong giới hạn từ -200
0
C
- 100
0
C. Phần lớn các loài sinh vật sống
trong phạm vi nhiệt độ 0 - 50
0
C hay còn
thấp hơn. Trong các suối nước nóng, một
số vi khuẩn có thể sống ở 88
0
C, vi khuẩn
lam ở 80
0
C. Cá sóc (Cyprinodon
macularis) sống ở nhiệt độ 52
0
C.
Trong khi đó có loài lại sống ở nhiệt
độ rất thấp. Ấu trùng sâu ngô
(Pyrausta nubilaris) chuẩn bị qua
đông chịu được nhiệt độ -27,2
0
C, cá
tuyết (Boregonus saida) hoạt động tích
cực ở nhiệt độ -2
0
C. Hoặc một số loài
sinh vật có giới hạn nhiệt độ rất lớn, như
loài chân bụng (Hydrobia aponensis) từ -
1 - +600C, còn đỉa phiến (Planuria
gonocephala) từ 0,5 - 24
0
C.
Những loài sinh vật trao đổi nhiệt ngoài
(hay cơ thể biến nhiệt) có thể thích nghi
với nhiệt độ cao, nhưng ở nhiệt độ thấp,
chẳng hạn ở nhiệt độ -1
0
C lại rất nguy
hiểm và có thể bị chết, do dịch tế bào bị
đóng băng.
Tuy nhiên, một số loài có thể sống ở
nhiệt độ thấp hơn giá trị trên vì dịch tế
bào có độ hạ băng điểm thấp. Độ hạ băng
điểm thấp liên quan với sự gia tăng hàm
lượng các muối khoáng và hợp chất hữu
cơ khác chứa trong dịch tế bào và dịch
thể xoang.
Hương Thảo - Theo giáo trình Sinh thái
học