Tài liệu Luận văn: “Công tác quản lí tài chính BHXH Việt Nam- Thực trạng và giải pháp” pptx





LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
ĐỀ TÀI: “Công tác quản lí tài chính BHXH
Việt Nam- Thực trạng và giải pháp”











MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG I: LÍ LUẬN CHUNG VỀ BHXH VÀ QUẢN LÍ TÀI CHÍNH
BHXH 3
I. Những vấn đề cơ bản về BHXH 3
1. Tính tất yếu khách quan của BHXH 3
2. Khái niệm BHXH 4
3. Bản chất và chức năng của BHXH 6
3.1. Bản chất của BHXH 6
3.2. Chức năng của BHXH 7
4. Nguyên tắc hoạt động của BHXH 8
5. Các chế độ của BHXH 8
6. Quỹ BHXH và phân loại quỹ BHXH 10
6.1. Quỹ BHXH 10
6.2. Phân loại quỹ BHXH: 11
II. Quản lí tài chính BHXH 12
1. Khái niệm chung về quản lí tài chính BHXH 12
2. Nội dung quản lí tài chính BHXH 14
2.1.Quản lí thu BHXH 15
2.2. Quản lí chi BHXH 16
2.3. Quản lí hoạt động đầu tư nhằm bảo toàn và tăng trưởng quỹ 17
2.4. Quản lí hoạt động cân đối quỹ 18
3.Các nhân tố ảnh hưởng tới hoạt động quản lí tài chính BHXH 18
III. Kinh nghiệm của một số nước về quản lí tài chính BHXH 19
1. Quản lí tài chính BHXH của Cộng hoà Liên bang Đức 19
2. Quản lí tài chính BHXH của Trung Quốc 21
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÍ TÀI CHÍNH BHXH TẠI VIỆT
NAM 22
I. Giới thiệu chung về BHXH Việt Nam 23
1. Khái quát về sự hình thành và quá trình phát triển của BHXH Việt
Nam 23
1.1.BHXH Việt Nam giai đoạn trước 1995 23
1.2. BHXH Việt Nam giai đoạn sau 1995 24
2. Chính sách BHXH Việt Nam từ năm 1995 đến nay 25
3. Cơ cấu tổ chức, quản lí của BHXH Việt Nam 28
II. Thực trạng của công tác quản lí tài chính BHXH Việt Nam 31
1. Công tác quản lí thu 31
1.1.Quản lí đối tượng tham gia 31
1.2. Quản lí quỹ lương của doanh nghiệp 35
1.3. Quản lí tiền thu BHXH 36
2. Quản lí chi BHXH 40
2.1. Chi các chế độ BHXH 40
2.1.1. Phân cấp chi trả 40
2.1.2. Phương thức chi trả 41
2.1.3. Quản lí đối tượng được hưởng và số tiền chi trả 42
2.2. Chi quản lí hoạt động bộ máy 43
3. Quản lí hoạt động đầu tư tăng trưởng quỹ 45
3. Quản lí hoạt động cân đối quỹ BHXH 47
III. Đánh giá chung về công tác quản lí tài chính BHXH Việt Nam 50
1. Những kết quả đạt được 50
1.1. Hình thành hệ thống pháp lí làm cơ sở cho cơ chế quản lí tài chính
BHXH: 50
1.2. Hình thành quỹ BHXH được quản lí tập trung và độc lập với NSNN. 50
1.3. Công tác thu được phân cấp, tổ chức thu hợp lí an toàn qua hệ thống tài khoản thu
BHXH Việt Nam 51
1.4. Thực hiện chi trả các chế độ vừa nhanh chóng, kịp thời vừa đảm bảo tính chính
xác 51
1.5. Quỹ đã có thu từ hoạt động đầu tư tăng trưởng quỹ, giảm được nhược điểm của cơ
chế quản lí PAYGO 52
2. Những tồn tại cần khắc phục và nguyên nhân 52
2.1. Việc số người tham gia còn ít đặc biệt là tình trạng trốn tham gia, trốn đóng, nợ
đọng phí BHXH còn rất phổ biến 52
2.2. Trong công tác chi trả BHXH Việt Nam còn nhiều hiện tượng sai sót trong xét
duyệt, tình trạng tồn đọng trong giải quyết chế độ vẫn tồn tại 53
2.3. Công tác đầu tư bảo tồn và phát triển quỹ tuy đã có thu nhưng còn hạn chế lợi
nhuận từ đầu tư còn rất nhỏ 53
CHƯƠNG III: MỘT SỐ GIẢI PHÁP ĐỐI VỚI CÔNG TÁC QUẢN LÍ TÀI CHÍNH
BHXH VIỆT NAM TRONG THỜI KÌ TỚI 55
I. Những quan điểm chủ yếu về vấn đề quản lí tài chính BHXH Việt Nam trong giai
đoạn tới 55
1. Quan điểm trong xây dựng chính sách BHXH 55
2. Những quan điểm cụ thể trong công tác quản lí tài chính BHXH Việt Nam trong giai
đoạn tới 55
II. Giải pháp cụ thể nhằm nâng cao chất lượng hoạt động quản lí tài chính BHXH trong
gian đoạn tới 56
1. Bài học kinh nghiệm từ hệ thống BHXH CHLB Đức và Trung Quốc 56
2. Những giải pháp cụ thể 57
2.1. Giải pháp cho công tác quản lí thu BHXH 57
2.2. Giải pháp cho công tác quản lí chi các chế độ BHXH 59
2.3. Giải pháp cho công tác chi quản lí 60
2.4. Giải pháp đầu tư tăng trưởng quỹ BHXH 61
2.5. Giải pháp về quản lí cân đối quỹ 63
3. Một số kiến nghị 64
3.1. Kiến nghị về phía Nhà nước 64
3.2. Kiến nghị về phía BHXH 65
KẾT LUẬN 66
TÀI LIỆU THAM KHẢO 67
§¹i häc Kinh tÕ quèc d©n LuËn v¨n tèt
nghiÖp
LỜI MỞ ĐẦU

Bảo hiểm xã hội (BHXH) là một chính sách lớn của Đảng và Nhà
nước đối với người lao động, nhằm đảm bảo cuốc sống vật chất, ổn định đời
sống cho người lao động và gia đình họ trong các trường hợp bị ốm đau, thai
sản, suy giảm khả năng lao động, mất việc làm, hết tuổi lao động hoặc chết.
Chính sách BHXH ở nước ta được thực hiện ngay từ những ngày đầu mới
thành lập nước, 60 năm qua, trong quá trình tổ chức thực hiện, chính sách
BHXH ngày càng được hoàn thiện và không ngừng đổi mới, bổ xung cho
phù hợp với điều kiện hiện tại của đất nước. Cùng với quá trình đổi mới của
nền kinh tế từ sau Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng (12/1986),
chính sách BHXH và tổ chức quản lí hoạt động cũng có nhiều đổi mới tích
cực.
Từ việc nghiên cứu quá trình đổi mới của BHXH tôi nhận thấy BHXH
thực sự là một chính sách quan trọng trong quá trình xây dựng và phát triển
của đất nước. BHXH không những góp phần ổn định đời sống của người lao
động mà còn khuyến khích họ tích cực lao động sản xuất tạo ra của cải cho
xã hội, xây dựng đất nước. Trong quá trình thực hiện BHXH đã không
ngừng phát triển cả về chất lượng lẫn số lượng. Số người tham gia ngày càng
tăng lên, mở rộng cho các đối tượng tham gia, hoàn thiện dần hệ thống chính
sách BHXH tiến tới thực hiện đủ các chế độ của Tổ chức lao động quốc tế
(ILO). Đặc biệt là sự đổi mới về cơ chế quản lí từ cơ chế quản lí kế hoạch
hoá, tập chung, bao cấp, hoàn toàn do NSNN đảm bảo đã chuyển sang cơ
chế thực hiện có thu và quỹ hoạt động trên nguyên tắc cân bằng thu chi.
Cách thực hiện như vậy không những giảm được gánh nặng cho NSNN mà
còn thể hiện trách nhiệm của cả người sử dụng lao động đối với người lao
động. Nhà nước nước đóng vai trò tổ chức thực hiện và quản lí thông qua
BHXH Việt Nam, là hệ thống ngành dọc được tổ chức từ Trung ương đến
địa phương.
Bên cạnh những mặt đạt được, BHXH Việt Nam cũng còn rất nhiều
tồn tại cần sớm được khắc phục cả về nội dung chính sách, tổ chức quản lí
hoạt động. Đây là những đòi hỏi cấp thiết cần được nghiên cứu để góp phần
§¹i häc Kinh tÕ quèc d©n LuËn v¨n tèt
nghiÖp
hoàn thiện chính sách và tổ chức quản lí hoạt động của BHXH Việt Nam.
Trong đó quản lí tài chính BHXH Việt Nam là một mảng lớn, cần được chú
trọng và quan tâm vì tài chính BHXH có vững thì các chế độ trợ cấp mới
được đảm bảo thực hiện tốt mà không dẫn đến tình trạng thâm hụt NSNN.
Chính vì vậy với ngành học được đào tạo, sau khi về thực tập tại BHXH
Việt Nam, tôi đã chọn đề tài: “Công tác quản lí tài chính BHXH Việt
Nam- Thực trạng và giải pháp” để nghiên cứu công tác quản lí tài chính
BHXH Việt Nam, với mục đích là rút ra những kết quả đạt được để phát
huy, những tồn tại cần khắc phục. Hơn nữa thông qua đó có thể đưa ra
những đóng góp, góp phần hoàn thiện hệ thống BHXH Việt Nam, phát huy
tối đa chức năng của BHXH trong thời đại mới.
Kết cấu của đề tài gồm ba chương:
Chương I: Lí luận chung về BHXH và quản lí tài chính BHXH.
Chương II: Thực trạng công tác quản lí tài chính BHXH tại Việt Nam
hiện nay.
Chương III: Một số giải pháp đối với công tác quản lí tài chính BHXH
Việt Nam trong thời kì tới.











§¹i häc Kinh tÕ quèc d©n LuËn v¨n tèt
nghiÖp


CHƯƠNG I:
LÍ LUẬN CHUNG VỀ BHXH VÀ
QUẢN LÍ TÀI CHÍNH BHXH

I.
Những vấn đề cơ bản về BHXH.
Tính tất yếu khách quan của BHXH.
Sự ra đời của BHXH cũng giống như các chính sách xã hội khác luôn
bắt nguồn từ yêu cầu thực tiễn của cuộc sống đặt ra.Từ thời xa xưa, con
người để chống lại những rủi ro, thiên tai của cuộc sống đã biết đoàn kết
tương trợ lẫn nhau, giúp đỡ lẫn nhau. Nhưng sự giúp đỡ này chỉ mang tính
tự phát và với quy mô nhỏ, thường là trong một nhóm người chung quan hệ
huyết thống.
Khi xã hội càng ngày càng tiến bộ, đặc biệt là khi chuyển sang giai
đoạn có sự phân công lao động xã hội, nền sản xuất xã hội lúc này đã phát
triển. Cùng với nó là quan hệ xã hội giữa các cá nhân, giữa các cộng đồng
cũng phát triển hơn. Khi đó tôn giáo bắt đầu xuất hiện, nó không chỉ với ý
nghĩa giáo dục con người hướng thiện mà còn có các trại bảo dưỡng, hội cứu
tế với mục đích từ thiện, trợ giúp nhau trong cuộc sống. Như vậy xét về bản
chất thì hình thức tương trợ trong thời kì này đã mang tính có tổ chức và quy
mô rộng rãi hơn.
Từ thế kỉ thứ XVI ở Châu Âu đã xuất hiện ngành công nghiệp, những
người nông dân không có đất phải di cư ra thành phố làm thuê cho các nhà
máy ngày càng nhiều và dần trở thành công nhân. Đặc biệt đến thời kì cách
mạng công nghiệp thì lực lượng ngày càng đông đảo và trở thành giai cấp
công nhân. Nhìn chung họ sống không ổn định, cuộc sống chỉ dựa vào công
việc với đồng lương ít ỏi, mất việc làm, ốm đau, tai nạn lao động đều có
thể đe doạ cuộc sống của họ. Tình đoàn kết tương thân tương ái giữa họ đã
nảy nở, cùng với đó là sự ra đời của các nghiệp đoàn, các hiệp hội giúp đỡ
các thành viên khi bị ốm đau bệnh tật trong quá trình sản xuất. Bên cạnh Hội
§¹i häc Kinh tÕ quèc d©n LuËn v¨n tèt
nghiÖp
tương tế còn có Quỹ tiết kiệm được Nhà nước khuyến khích thành lập. Tiếp
đó những quy định bắt buộc người sử dụng lao động phải chu cấp cho người
lao động thuộc quyền quản lí khi họ gặp phải ốm đau, tai nạn lao động, mất
việc Giai cấp công nhân càng đông đảo thì sức ép đối với những đòi hỏi
đảm bảo cuộc sống cho họ ngày càng ảnh hưởng đến đời sống chính trị của
mỗi nước. Trước tình cảnh đó Chính Phủ mỗi nước không thể không quan
tâm đến tình cảnh của người lao động. Những yêu cầu giảm giờ làm, cải
thiện điều kiện lao động, đảm bảo cuộc sống của người lao động dần được
quy định thành các chính sách bắt buộc đối với mỗi nước.
Điển hình là vào năm 1850, dưới thời Thủ tướng Bismark của Đức đã
giúp các địa phương thành lập quỹ do người công nhân đóng góp để được
trợ cấp lúc rủi ro. Nguyên tắc bảo hiểm bắt buộc bắt nguồn từ đây, người
được bảo hiểm phải tham gia đóng phí. Sau đó sáng kiến này được áp dụng
rộng rãi trên khắp thế giới. BHXH ngày càng được hoàn thiện, thực hiện
rộng khắp các nước và được Tổ chức Lao động Quốc tế ( ILO) thông qua
trong Công ước số 102 vào tháng 4 năm 1952. BHXH ở nước ta đã manh
nha hình thành từ thời thực dân Pháp thống trị. Sau cách mạng tháng Tám,
Chính phủ nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà đã ban hành sắc lệnh 29/ SL
ngày 12/3/1947 về việc thực hiện bảo hiểm ốm đau, tai nạn lao động, hưu trí.
Đây là những viên gạch đầu tiên xây dựng nên hệ thống BHXH Việt Nam
như hiện nay.
2. Khái niệm BHXH.
Qua quá trình hình thành chúng ta có thể nhận thấy, lúc khởi đầu,
BHXH chỉ mang tính chất tự phát, phạm vi hoạt động nhỏ hẹp, trước nhu
cầu của thực tiễn thì chính sách BHXH đã nhanh chóng ra đời và từng bước
phát triển rộng khắp. BHXH đã được từ điển bách khoa Việt Nam định
nghĩa như sau:
“ BHXH là sự đảm bảo thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập cho
người lao động khi họ bị mất hoặc giảm thu nhập do bị ốm đau, thai sản, tai
nạn lao động hoặc bệnh nghề nghiệp, tàn tật, thất nghiệp, tuổi già, tử tuất
dựa trên cơ sở một quỹ tài chính do sự đóng góp của các bên tham gia
BHXH, có sự bảo hộ của Nhà nước theo pháp luật, nhằm bảo đảm an toàn
§¹i häc Kinh tÕ quèc d©n LuËn v¨n tèt
nghiÖp
đời sống cho người lao động và gia đình họ, đồng thời góp phần bảo đảm an
toàn xã hội.”
Qua khái niệm trên, có thể rút ra một số điểm cơ bản sau:
- Đối tượng của BHXH chính là phần thu nhập của người lao động bị biến
động, giảm hoặc mất đi do bị giảm hoặc mất khả năng lao động do các
biến cố như đã nêu trên từ đó để giúp ổ định cuộc sống của bản thân
người lao động và gia đình họ. Chính vì yếu tố này mà BHXH được coi
là một chính sách lớn của mỗi quốc gia và được Nhà nước quan tâm quản
lí chặt chẽ. Cũng tùy vào điều kiện kinh tế của mỗi nước mà các quy định
về đối tượng này là có sự khác nhau nhưng cùng bảo đảm ổn đình đời
sống của người lao động.
- Đối tượng tham gia BHXH là gồm người lao động và cả người sử dụng
lao động. Sở dĩ người lao động phải đóng phí vì chính họ là đối tượng
được hưởng BHXH khi gặp rủi ro. Người sử dụng lao động đóng phí là
thể hiện sự quan tâm, trách nhiệm của họ đối với người lao động. Và sự
đóng góp trên là bắt buộc, ngoài ra còn có sự hỗ trợ của Nhà nước.
- Để điều hoà mâu thuẫn giữa người lao động và người sử dụng lao động,
để gắn bó lợi ích giữa họ, Nhà nước đã đứng ra yêu cầu cả hai bên cùng
đóng góp và đây cũng là chính sách xã hội được thực hiện góp phần ổn
định cuộc sống một cách hiệu quả nhất.
Dựa vào bản chất và chức năng của BHXH mà Tổ chức Lao động
Quốc tế ( ILO) cũng đã đưa ra một định nghĩa khác như sau:
“ BHXH là sự bảo vệ của xã hội đối với các thành viên của mình
thông qua một loạt các biện pháp công cộng (bằng pháp luật, trách nhiệm
của Chính phủ) để chống lại tình trạng khó khăn về kinh tế và xã hội do bị
mất hoặc giảm mất thu nhập gây ra bởi ốm đau, mất khả năng lao động, tuổi
già, tàn tật và chết. Hơn nữa, BHXH còn phải bảo vệ cho việc chăm sóc y tế,
sức khoẻ và trợ cấp cho các gia đình khi cần thiết.”
Từ định nghĩa trên chúng ta thấy mục tiêu của BHXH là hướng tới sự
phát triển của mỗi cá nhân và toàn xã hội. BHXH thể hiện sự đảm bảo lợi
§¹i häc Kinh tÕ quèc d©n LuËn v¨n tèt
nghiÖp
ích của xã hội đối với mỗi thành viên từ đó gắn kết mỗi cá nhân với xã hội
đó.
3. Bản chất và chức năng của BHXH.
3.1. Bản chất của BHXH.
Có thể hiểu BHXH là sự bù đắp một phần thu nhập bị mất của người
lao động khi gặp phải những biến cố như ốm đau, tai nan lao động, bệnh
nghề nghiệp hoặc tuổi già làm mất, giảm khả năng lao động, từ đó giúp ổn
định cuộc sống của bản thân người lao động và gia đình họ. BHXH hiện nay
được coi là một chính sách xã hội lớn của mỗi quốc gia, được nhà nước quan
tâm và quản lí chặt chẽ. BHXH xét về bản chất bao gồm những nội dung sau
đây:
BHXH là sự cần thiết tất yếu khách quan gắn liền với sự phát triển của
nền kinh tế. Đặc biệt đối với nền kinh tế hàng hoá hoạt động theo cơ chế thị
trường, mối quan hệ giữa người lao động và người sử dụng lao động ngày
càng phát triển. Do vậy trình độ phát triển của nền kinh tế quyết định đến sự
đa dạng và tính hoàn thiện của BHXH. Vì vậy có thể nói kinh tế là yếu tố
quan trọng quyết định tới hệ thống BHXH của mỗi nước.
BHXH, bên tham gia BHXH, bên được BHXH là ba chủ thể trong mối
quan hệ của BHXH. Bên tham gia BHXH gồm người lao động và người sử
dụng lao động (bên đóng góp), bên BHXH là bên nhận nhiệm vụ BHXH,
thông thường thì do cơ quan chuyên trách do Nhà nước lập ra và bảo trợ,
bên được BHXH chính là người lao động và gia đình họ khi có đủ điều kiện
cần thiết. Từ đó họ được đảm bảo những nhu cầu thiết yếu, giúp họ ổn định
cuộc sống, góp phần ổn đình xã hội.
Những biến cố làm giảm hoặc mất khả năng lao động của người lao
động có thể là những rủi ro ngẫu nhiên( tai nạn, ốm đau, bệnh nghề
nghiệp ), cũng có thể là các rủi ro không hoàn toàn ngẫu nhiên( tuổi già,
thai sản, ). Đồng thời các biến cố này có thể xảy ra trong quá trình lao
động hoặc ngoài lao động. Phần thu nhập của người lao động bị giảm hay
mất đi từ các rủi ro trên sẽ được thay thế hoặc bù đắp từ nguồn quỹ tập trung
§¹i häc Kinh tÕ quèc d©n LuËn v¨n tèt
nghiÖp
được tồn tích lại do bên tham gia BHXH đóng góp và có thêm sự hỗ trợ của
NSNN.
3.2. Chức năng của BHXH.
Chức năng cơ bản nhất của BHXH là thay thế, bù đắp phần thu nhập
của người lao động khi họ gặp những rủi ro làm mất thu nhập do mất khả
năng lao động hay mất việc làm. Rủi ro này có thể làm mất khả năng lao
động tam thời hay dài hạn thì mức trợ cấp sẽ được quy định cho từng trường
hợp. Chức năng này quyết định nhiệm vụ, tính chất và cả cơ chế tổ chức
hoạt động của BHXH.
Đối tượng tham gia BHXH có cả người lao động và người sử dụng lao
động và cùng phải đóng góp vào quỹ BHXH. Quỹ này dùng để trợ cấp cho
người lao động khi gặp phải rủi ro, số người này thường chiếm số ít. BHXH
thực hiện cả phân phối lại thu nhập theo chiều dọc và chiều ngang, giữa
người lao động khoẻ mạnh với người lao động ốm đau, già yếu , giữa
những người có thu nhập cao phải đóng nhiều với người có thu nhập thấp
phải đóng ít. Như vậy thực hiện chức năng này BHXH còn có ý nghĩa góp
phần thực hiện công bằng xã hội, một mục tiêu quan trọng trong chính sách
kinh tế -xã hội của mỗi quốc gia.
Nhờ có BHXH mà người lao động luôn yên tâm lao động, gắn bó với
công việc, nâng cao năng suất lao động. Từ đó góp phần nâng cao năng suất
lao động xã hội, tạo ra của cải vật chất ngày càng nhiều hơn, nâng cao đời
sống toàn xã hội. Nếu trước đây, sự trợ giúp là mang tính tự phát, thì hiện
nay khi xã hội đã phát triển, việc trợ giúp đã được cụ thể hoá bằng các chính
sách, quy định của Nhà nước. Sự bảo đảm này giúp gắn bó mối quan hệ giữa
người lao động và xã hội và càng thúc đẩy hơn nghĩa vụ của họ đối với xã
hội.
Trong thực tế giữa người lao động và người sử dụng lao động có
những mâu thuẫn nội tại, khách quan về tiền lương, tiền công, thời gian lao
động BHXH đã gắn bó lợi ích giữa họ, đã điều hoà được những mâu thuẫn
giữa họ, làm cho họ hiểu nhau hơn. Đây cũng là mối quan hệ biện chứng hai
bên đều có lợi, người lao động thì được đảm bảo cuộc sống, người sử dụng
thì sẽ có một đội ngũ công nhân hăng hái, tích cực trong sản xuất. Đối với
§¹i häc Kinh tÕ quèc d©n LuËn v¨n tèt
nghiÖp
Nhà nước thì BHXH là cách chi ít nhất song hiệu quả nhất vì đã giải quyết
những khó khăn về đời sống của người lao động và góp phần ổn định sản
suất, ổn định kinh tế - xã hội.
4. Nguyên tắc hoạt động của BHXH.
Nhìn chung hệ thống BHXH được thực hiện dựa trên các nguyên tắc
sau:
Thứ nhất là nguyên tắc đóng hưởng chia sẻ rủi ro; lấy số đông bù số ít,
lấy của người đang làm việc bù đắp cho người nghỉ hưởng chế độ BHXH.
Đây là nguyên tắc hoạt động chung của ngành bảo hiểm là quỹ góp chung
của số đông bù cho số ít là những người thiếu may mắn gặp phải những rủi
ro trong cuộc sống, trong lao động sản xuất. Phần thể hiện tính chính sách
của Nhà nước là việc rủi ro trong BHXH không chỉ là những rủi ro thuần tuý
như trong bảo hiểm thương mại mà còn có cả những rủi ro không mang tính
ngẫu nhiên như: tuổi già, thai sản,
Thứ hai là mức hưởng phải thấp hơn tiền lương làm căn cứ đóng
BHXH, nhưng phải đảm bảo được mức sống tối thiểu cho người hưởng
khoản trợ cấp đó. Việc quy định trên là hoàn toàn hợp lí và cũng là quy định
chung cho tất cả các nước, song thấp bao nhiêu còn tuỳ thuộc vào điều kiện
kinh tế, chính trị, xã hội của mỗi nước trong mỗi thời kì khác nhau.
Thứ ba là phải tự chủ về tài chính, đây là nguyên tắc quan trọng trong
chính sách BHXH của các nước. Nếu chỉ hoàn toàn phụ thuộc vào Ngân
sách Nhà nước (NSNN) giống như giai đoạn trước cải cách năm 1995 của
nước ta thì đây thực sự là một gánh nặng lớn của đất nước. Việc thành lập
quỹ BHXH do các bên tham gia BHXH đóng góp và có sự hỗ trợ của Nhà
nước là hoàn toàn phù hợp. Quỹ này có thể quản lí theo các cách thức khác
nhau song độc lập với NSNN , NSNN chỉ bù thiếu hoặc tài trợ một phần tuỳ
thuộc vào quy định của mỗi nước khác nhau.
5. Các chế độ của BHXH.
Đối với mỗi nước có những hoàn cảnh kinh tế, chính trị, xã hội khác
nhau nên BHXH được tổ chức thực hiện theo những quy định riêng khác
nhau. BHXH được xây dựng dựa vào các nguyên tắc trên một cách thống
§¹i häc Kinh tÕ quèc d©n LuËn v¨n tèt
nghiÖp
nhất trên toàn thế giới và phải tuân thủ các quy định sau của tổ chức Lao
động Quốc tế (ILO) về hệ thống chính sách BHXH. Trong Công ước 102
được ILO thông qua ngày 4/6/1952 có quy định những quy phạm tối thiểu
về an toàn xã hội đã đưa ra 9 chế độ sau:
- Chăm sóc y tế.
- Trợ cấp ốm đau.
- Trợ cấp thất nghiệp.
- Trợ cấp tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp.
- Trợ cấp tuổi già.
- Trợ cấp thai sản.
- Trợ cấp tàn tật.
- Trợ cấp vì mất người trụ cột gia đình.
Các thành viên tham gia Công ước phải thực hiện ít nhất là 3 trong 9
chế độ nói trên, trong đó phải có nhất thiết 1 trong năm chế độ sau đây:
- Trợ cấp tuổi già.
- Trợ cấp thất nghiệp.
- Trợ cấp tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp.
- Trợ cấp tàn tật.
- Trợ cấp vì mất người trụ cột gia đình.
Mỗi chế độ trong hệ thống BHXH khi xây dựng phải dựa trên các cơ
sở điều kiện kinh tế, thu nhập, tiền lương, Đồng thời, tuỳ từng chế độ mà
còn phải tính đến các yếu tố sinh học, tuổi thọ bình quân, nhu cầu dinh
dưỡng, để quy định các mức đóng, mức hưởng, thời gian hưởng và đối
tượng hưởng cho hợp lí. Các chế độ BHXH có những đặc điểm chủ yếu sau
đây:
+ Các chế độ được xây dựng theo luật pháp của mỗi nước.
+ Hệ thống các chế độ mang tính chất chia sẻ rủi ro, chia sẻ tài chính.
§¹i häc Kinh tÕ quèc d©n LuËn v¨n tèt
nghiÖp
+ Mỗi chế độ được chi trả đều căn cứ chủ yếu vào mức đóng góp của các
bên tham gia BHXH.
+ Phần lớn các chế độ là chi trả định kì.
+ Đồng tiền được sử dụng làm phương tiện chi trả và thanh quyết toán.
+ Chi trả BHXH như là quyền lợi của mỗi chế độ BHXH.
+ Mức chi trả còn phụ thuộc vào quỹ dự trữ. Nếu quỹ dự trữ được đầu tư
có hiệu quả và an toàn thì mức chi trả sẽ cao và ổn định.
+ Các chế độ BHXH cần phải được điều chỉnh định kì để phản ánh hết
sự thay đổi của điều kiện kinh tế -xã hội.
6. Quỹ BHXH và phân loại quỹ BHXH.
6.1. Quỹ BHXH.
Như chúng ta đã tìm hiểu trong phần 1 ở trên thì sự ra đời của quỹ
BHXH là một bước ngoặt lớn đối với ngành BHXH trên toàn thế giới. Quỹ
BHXH là một quỹ tài chính độc lập, tập chung nằm ngoài NSNN và được
hình thành từ các nguồn sau đây:
- Người sử dụng lao động đóng góp,
- Người lao động đóng góp,
- Nhà nước đóng và hỗ trợ thêm,
- Các nguồn khác (như cá nhân và tổ chức từ thiện ủng hộ, lãi từ các
hoạt động đầu tư quỹ nhàn rỗi).
Trách nhiệm tham gia đóng góp BHXH cho người lao động được
phân chia cho cả người lao động và người sử dụng lao động trên cơ sở quan
hệ lao động. Điều này không phải sự chia sẻ rủi ro, mà là lợi ích giữa hai
bên. Sự đóng góp một phần quỹ của người sử dụng lao động cho người lao
động sẽ tránh được những thiệt hại kinh tế do phải chi ra một khoản tiền lớn
khi có rủi ro xảy ra đối với người lao động mà mình thuê mướn. Đồng thời,
nó còn góp phần giảm bớt mâu thuẫn, kiến tạo mối quan hệ tốt đẹp giữa chủ-
thợ. Về phía người lao động, sự đóng góp của họ vừa thể hiện sự tự gánh
§¹i häc Kinh tÕ quèc d©n LuËn v¨n tèt
nghiÖp
chịu chính những rủi ro của chính mình, vừa có ý nghĩa ràng buộc nghĩa vụ
và quyền lợi một cách chặt chẽ.
Phần lớn các nước trên thế giới, quỹ BHXH đều được hình thành từ
các nguồn nêu trên. Tuy nhiên, phương thức đóng góp và mức đóng góp của
các bên tham gia BHXH có khác nhau tuỳ thuộc quy định của mỗi nước.
Hiện nay mức đóng góp BHXH của người lao động và người sử dụng lao
động hiện vẫn còn hai quan điểm. Quan điểm thứ nhất cho rằng, phải căn cứ
vào mức lương cá nhân và quỹ lương cơ quan, doanh nghiệp. Quan điểm thứ
hai lại cho rằng, phải căn cứ vào mức thu nhập cơ bản của người lao động
được cân đối chung trong toàn bộ nền kinh tế quốc dân để xác định mức
đóng góp. Về mức đóng góp BHXH, mỗi nước lại có những quy định khác
nhau. Một số nước quy định người sử dụng lao động phải chịu toàn bộ chi
phí cho chế độ tai nạn lao động, Chính phủ trả chi phí y tế và trợ cấp gia
đình, các chế độ còn lại cả người lao động và người sử dụng lao động cùng
đóng góp mỗi bên một phần bằng nhau. Trong đó, một số nước khác lại quy
định, Chính phủ bù thiếu cho quỹ BHXH hoặc chịu toàn bộ chi quản lí
BHXH
Quỹ BHXH được sử dụng để chi trả chủ yếu cho hai mục đích sau:
thứ nhất là chi trả và trợ cấp cho các chế độ BHXH như đã nêu ở mục 5, còn
lại là chi trả cho chi phí sự nghiệp quản lí BHXH. Trong hai khoản chi đó thì
khoản chi thứ nhất là quan trọng và chiếm phần lớn trong quỹ BHXH. Các
khoản trợ cấp này cũng được quy định về mức trợ cấp và thời gian hưởng
một cách cụ thể và có sự khác biệt đối với từng chế độ. Tại những nước khác
nhau thì các khoản trợ cấp này cũng được quy định khác nhau.
6.2. Phân loại quỹ BHXH:
Tuỳ theo mục đích và cách tổ chức của những hệ thống BHXH trên
thế giới mà quỹ BHXH được phân loại khác nhau:
- Phân loại theo các chế độ bao gồm: Quỹ hưu trí, tử tuất; Quỹ tai nạn
lao động và bệnh nghề nghiệp; Quỹ thất nghiệp; Quỹ ốm đau thai sản.
§¹i häc Kinh tÕ quèc d©n LuËn v¨n tèt
nghiÖp
- Phân loại theo tính chất sử dụng bao gồm: Quỹ ngắn hạn để chi trả
cho các chế độ ngắn hạn như ốm đau, thai sản, tai nạn lao động làm
mất khả năng lao động tạm thời; Quỹ dài hạn để chi trả trợ cấp cho
các chế độ như hưu trí, tử tuất.
- Phân loại theo đối tượng tham gia bao gồm: Quỹ cho công chức Nhà
nước, quỹ cho lực lượng vũ trang, quỹ cho lao động trong các doanh
nghiệp, quỹ cho các đối tượng còn lại.
Việc phân loại quỹ như trên cần được thực hiện và cân nhắc tránh
những tình trạng phân nhỏ quỹ dễ gây ra tình trạng mất tập trung, không có
sự bổ xung và hỗ trợ lẫn nhau. Việc phân chia quỹ không hợp lí sẽ dẫn tới
những ảnh hưởng xấu đến việc chi trả cho các đối tượng, đặc biệt là vấn đề
quản lí quỹ một cách hợp lí. Dựa trên các cách tổ chức thực hiện các chế độ
mà mỗi nước lại có những quy định khác nhau về các quỹ thành phần. Các
quỹ thành phần phải thực sự phù hợp với hệ thống BHXH đó.
II. Quản lí tài chính BHXH.
1. Khái niệm chung về quản lí tài chính BHXH.
Trước tiên chúng ta cần hiểu khái niệm về quản lí. Quản lí là những
hoạt động nhằm tác động một cách có tổ chức, có định hướng của chủ thể
quản lí vào một đối tượng quản lí nhất định để điều chỉnh các quá trình xã
hội và hành vi của con người từ đó có thể duy trì được tính ổn định của đối
tượng. Đối tượng của quản lí ở đây là tài chính BHXH, tài chính BHXH là
một thuật ngữ thuộc phạm trù tài chính chỉ một mắt khâu tài chính tồn tại
độc lập trong hệ thống tài chính quốc gia. Tài chính BHXH tham gia vào
quá trình phân phối và sử dụng các nguồn tài chính nhằm đảm bảo cuộc
sống cho người lao động và gia đình họ khi gặp rủi ro từ đó đảm bảo sự ổn
định và phát triển kinh tế xã hội. Như vậy, nhìn rộng ra thì quản lí tài chính
BHXH là việc sử dụng tài chính BHXH như một công cụ quản lí xã hội của
Nhà nước. Nhà nước thông qua hoạt động tài chính BHXH để thực hiện
mục tiêu quản lí xã hội đó là đảm bảo ổn định cuộc sống cho nhân dân trước
những rủi ro làm giảm hoặc mất khả năng lao động hay khi về già, giúp
§¹i häc Kinh tÕ quèc d©n LuËn v¨n tèt
nghiÖp
người lao động yên tâm lao động sản xuất, góp phần thúc đẩy sản xuất phát
triển. BHXH thể hiện tính ưu việt của mỗi quốc gia, mỗi thể chế xã hội . Còn
hiểu theo nghĩa hẹp thì quản lí tài chính BHXH là quản lí thu chi BHXH.
Như vậy quản lí tài chính BHXH chủ yếu liên quan tới việc làm thế nào để
hoạt động thu chi quỹ BHXH được thực hiện một cách bình thường trước
những biến động của môi trường. Biến động ở đây là những biến động về
đối tượng tham gia, đối tượng hưởng, biến động của môi trường sống, môi
trường kinh tế , những biến động tác động trực tiếp đến đời sống của người
lao động, đến việc thu chi quỹ BHXH, ảnh hưởng tới sự đầu tư tăng trưởng
quỹ BHXH. Nội dung của quản lí tài chính BHXH chủ yếu là sự lựa chọn và
xác định các chính sách, chế độ, quy chế về tài chính BHXH một cách hợp lí
và lấy đó làm căn cứ để ra quyết định cụ thể của thu chi BHXH thực hiện
mục tiêu của Nhà nước đặt ra.
Khi thực hiện quản lí tài chính BHXH cần chú ý hai nguyên tắc chủ
yếu sau:
- Quá trình quản lí tài chính BHXH phải luôn được tính toán, so
sánh và cân đối trong trạng thái động: Bởi vì lượng tiền mặt của quỹ biến
động theo từng chế độ trợ cấp BHXH khác nhau, lượng lao động biến động
một cách thường xuyên nên trong quản lí, đặc biệt là khâu lập kế hoạch phải
chú trọng tới vấn đề này. Đây cũng là một đặc thù trong ngành Bảo hiểm nói
chung và BHXH nói riêng vì tính đảo ngược chu kì kinh doanh tức là thu phí
trước chi trả cho các chế độ sau. Tuy có sự hỗ trợ của NSNN, song quản lí
tài chính BHXH phải góp phần giảm gánh nặng cho NSNN và vẫn thực hiện
chính sách xã hội này một cách tốt nhất.
- Quỹ BHXH phải được bảo tồn và phát triển: Như trên đã đề cập thì
ngành Bảo hiểm có đặc thù thu phí trước, chi trả sau, thời gian đóng và thời
gian hưởng có thể kéo dài, đồng tiền có giá trị về mặt thời gian. Do vậy cần
đầu tư để bảo tồn và tăng trưởng quỹ một cách hợp lí. Để đảm bảo nguyên
tắc này cơ quan BHXH phải tăng cường kiểm tra, giám sát hoạt động thu chi
và quản lí quỹ thực hiện đầu tư phần quỹ nhàn rỗi một cách có hiệu quả và
tuân thủ các nguyên tắc sau:
§¹i häc Kinh tÕ quèc d©n LuËn v¨n tèt
nghiÖp
+An toàn: Mục đích của quỹ là bảo đảm chi trả lương hưu và các trợ cấp
BHXH cho người lao động. Vì vậy, quỹ dù có đầu tư vào lĩnh vực nào cũng
phải đảm bảo an toàn cho khoản đầu tư đó. Đảm bảo an toàn là không chỉ
bảo toàn vốn đầu tư về danh nghĩa, mà còn là bảo toàn về cả giá trị thực tế,
điều này càng có ý nghĩa quan trọng trong thời kì lạm phát. Nói cách khác
thì đầu tư quỹ phải lựa chọn lĩnh vực để giảm thiểu rủi ro.
+ Hiệu quả: Đây là mục tiêu của việc đầu tư tăng trưởng quỹ do vậy
nguyên tắc này rất quan trọng và phải được đi liền với nguyên tắc thứ nhất.
Lãi đầu tư không chỉ góp phần đảm bảo khả năng thanh toán cho các khoản
chi mà còn góp phần cho phép hạ tỉ lệ đóng góp của người lao động và
người sử dụng lao động.
+ Khả năng thanh toán (tính lưu chuyển của vốn): Đây cũng là yêu cầu
đặc thù của nghành do các khoản chi trả là phát sinh sau và kéo dài nên các
khoản đầu tư phải đảm bảo tính thanh khoản để dễ dàng chi trả cho các đối
tượng kịp thời. Đặc biệt tránh những khoản đầu tư dễ vướng vào những vấn
đề tồn khoản. Các hình thức đầu tư dễ thanh khoản và an toàn thường được
ưu tiên thực hiện trước.
+ Có lợi ích kinh tế, xã hội: Là một quỹ tài chính để thực hiện chính sách
xã hội, do đó trong quá trình đầu tư phải lưu ý đến việc nâng cao phúc lợi
cho người dân, phải ra sức cải thiện chất lượng chung cho đời sống dân cư
của đất nước. Các hình thức, hạng mục đầu tư phải đặt vấn đề hiệu quả kinh
tế xã hội lên hàng đầu. Hoạt động đầu tư tăng trưởng quỹ BHXH khác với
các hoạt động đầu tư khác với mục tiêu lợi nhuận làm đầu vì BHXH chính là
một chính sách quan trọng trong hệ thống An sinh xã hội của mỗi nước.
2. Nội dung quản lí tài chính BHXH.
Nhìn chung, quản lí tài chính BHXH bao gồm bốn nội dung cơ bản
sau:
- Quản lí thu BHXH.
- Quản lí chi BHXH.
- Quản lí hoạt động đầu tư tăng trưởng quỹ.
§¹i häc Kinh tÕ quèc d©n LuËn v¨n tèt
nghiÖp
- Quản lí cân đối quỹ BHXH.
2.1. Quản lí thu BHXH.
Quản lí thu giữ vai trò quan trọng và quyết định đến sự thành công
của quá trình thu BHXH, từ đó quyết định đến sức mạnh quỹ BHXH để đảm
bảo cho việc chi trả cho các chế độ trợ cấp. Trước tiên chúng ta phải nắm
được nội dung thu gồm hai khoản thu từ người lao động và người sử dụng
lao động. Đây là khoản thu lớn nhất và đóng vai trò quan trọng, quyết định.
Các khoản thu khác như: thu từ các quỹ của các tổ chức, cá nhân từ thiện
hay sự hỗ trợ của NSNN là nhỏ, NSNN chỉ bù đắp cho những trường hợp
cần thiết. Hơn nữa đây là khoản thu mà tổ chức BHXH cũng không thể tự
điều chỉnh được vì nó mang tính thụ động. Do vậy mà công tác quản lí thu
chỉ tập chung vào nguồn thu từ hai đối tượng chính người lao động và người
sử dụng lao động. Nội dung của quản lí thu lại tập chung vào ba đối tượng
chính sau đây:
Quản lí đối tượng tham gia BHXH: Đây là việc đầu tiên mà mỗi tổ
chức BHXH khi thực hiện quan tâm đến, thường các đối tượng này được
quy định rõ trong các văn bản quy phạm pháp luật của Nhà nước. Hơn thế
nữa BHXH cũng hoạt động trên nguyên tắc san sẻ rủi ro và tuân theo quy
luật số đông bù số ít nên việc tham gia đầy đủ của các đối tượng tham gia
BHXH là việc rất quan trọng. Quản lí đối tượng tham gia cần thực hiện các
công việc sau:
+ Quản lí số lượng đăng kí tham gia BHXH.
+ Quản lí đối tượng bắt buộc tham gia BHXH theo quy định.
+ Quản lí công tác cấp sổ BHXH: Vì đây là căn cứ xác định quá trình
đóng góp, ngành nghề lao động, thời gian lao động, tên người lao động và
một số thông tin khác.
Quản lí quỹ lương của các doanh nghiệp: Theo những quy định hiện
hành như ngày nay thì phí thu BHXH thường được tính theo phần trăm tổng
quỹ lương của doanh nghiệp và tiền lương tháng của người lao động nên quỹ
lương còn là cơ sở để quản lí thu một cách thuận lợi. Dựa trên quỹ lương của
doanh nghiệp BHXH có thể đảm bảo thu đúng, thu đủ và hạn chế được tình
§¹i häc Kinh tÕ quèc d©n LuËn v¨n tèt
nghiÖp
trạng gian lận trốn đóng BHXH. Bên cạnh đó chính các doanh nghiệp trở
thành những “đại lí” thực hiện thu và chi trả trực tiếp cho một vài chế độ là
thực sự thuận lợi cho công tác thu phí nói riêng và công tác thực hiện các
chế độ BHXH nói chung.
Quản lí tiền thu BHXH: Các đơn vị, doanh nghiệp sẽ thực hiện nộp
phí thông qua tài khoản của BHXH. Do vậy, BHXH khó nắm bắt được tình
hình thu. Để đảm bảo thu đúng, thu đủ, kịp thời cần có những quy định rõ
ràng về thời gian nộp, hệ thống tài khoản thu nộp phải thuận lợi và an toàn
cho việc nộp. Việc nắm bắt tình hình thu BHXH giúp quản lí quỹ dễ dàng,
kịp thời điều chỉnh và đảm bảo cho công tác chi trả được thực hiện một cách
tốt nhất. Trong nội dung quản lí thu BHXH, tất cả các đóng góp BHXH sẽ
được quản lí chung một cách thống nhất, dân chủ, công khai trong toàn hệ
thống.
2.2. Quản lí chi BHXH.
Các khoản chi BHXH bao gồm các khoản chi cho các chế độ, chi
quản lí và chi khác. Trong đó có thể nói hai khoản chi đầu là rất lớn đặc biệt
là chi cho các chế độ, hơn nữa khoản chi này chính là thể hiện sự bảo đảm
cuộc sống của chính sách BHXH. Vì vậy nhắc đến quản lí chi là nhắc đến
hai nội dung chính sau:
Quản lí hoạt động chi trả cho các chế độ: Mục tiêu của hoạt động
quản lí chi không với mục đích giảm khoản chi này một cách lớn nhất có thể
mà quản lí để tránh tình trạng chi sai chế độ hoặc chi không đúng đối tượng
vừa tránh lãng phí lại đảm bảo công bằng cho các đối tượng tham gia
BHXH. Do vậy, để đảm bảo chi trả trợ cấp đúng chế độ, đúng đối tượng, kịp
thời cần có phương thức chi hợp lí, tổ chức thực hiện chi trả cho các chế độ
thuận lợi, dễ dàng. Cũng như quản lí hoạt động thu trước tiên chúng ta phải
quản lí những đối tượng được hưởng các chế độ BHXH. Đối tượng có thể
hưởng các chế độ chính là bản thân người lao động hoặc người thân trong
gia đình họ. Đối tượng được hưởng các chế độ trợ cấp là những người lao
động tham gia đóng phí BHXH và gặp phải những rủi ro làm mất hoặc giảm
khả năng lao động dẫn đến mất hoặc giảm thu nhập của họ. Các điều kiện
hưởng được quy định cụ thể trong các văn bản, thường thì mức trợ cấp, loại
§¹i häc Kinh tÕ quèc d©n LuËn v¨n tèt
nghiÖp
trợ cấp và thời gian trợ cấp thì phụ thuộc vào mức đóng góp, thời gian đóng
góp, mức độ hay tỉ lệ thương tật, và chính biến cố mà người lao động gặp
phải. BHXH Việt Nam muốn quản lí tốt cần có những văn bản quy định rõ
ràng và hợp lí về các điều kiện hưởng của các loại chế độ, dựa trên cơ sở đó
để xử lí các trường hợp cho công bằng. Đối tượng hưởng cần được xem xét
và kiểm tra nhằm tránh tình trạng chi sai hoặc chi không hợp lí. Quản lí chi
cho các chế độ cũng cần được phân loại và phân cấp quản lí để dễ quản lí và
thực hiện chi trả cho thuận tiện.
Quản lí chi hoạt động bộ máy: Sau chi cho các chế độ thì đây là
khoản chi lớn thứ hai cần được quản lí. Chi quản lí có thể hiểu đơn giản là
khoản chi cho bộ máy tức là trả lương cho cán bộ, chi cho đầu tư xây dựng
cơ bản, chi mua sắm thiết bị và những tài sản cố định nhằm duy trì hoạt
động của tổ chức BHXH. Mức chi này có thể được quy định trong điều lệ
BHXH hoặc cũng có thể được lập trong NSNN. Khoản chi này cần được
quản lí tránh những lãng phí không cần thiết. Một số nước khoản chi này
được NSNN chi trả, một số nước lại do quỹ BHXH đảm bảo. Song nhìn
chung thì chi phí quản lí là phải phù hợp tránh những lãng phí không cần
thiết, song chi phí quản lí cũng phải đủ lớn để đảm bảo cơ sở cho hoạt động
quản lí của BHXH được thực hiện dễ dạng. Hơn nữa lương cho cán bộ nhân
viên của ngành BHXH phải cân bằng với các ngành khác.
2.3. Quản lí hoạt động đầu tư nhằm bảo toàn và tăng trưởng quỹ.
Quỹ BHXH tại một thời điểm thường có số tiền kết dư rất lớn, đây là
cơ sở của những yêu cầu cần bảo toàn và phát triển quỹ. Như chúng ta đã
biết thì quỹ thu trước, chi sau, đặc biệt trong điều kiện nền kinh tế thị trường
với những cơ hội cũng như những rủi ro có thể xảy ra bất cứ lúc nào nên
việc bảo toàn và phát triển quỹ lại trở thành nhu cầu bức thiết. Nếu quỹ
không chú trọng đến vấn đề đầu tư có thể sẽ đứng trước tình trạng bội chi
hay nói cách khác là chi vượt quá thu. Nếu đầu tư tăng trưởng quỹ có hiệu
quả thì đây là một nguồn thu bổ sung rất lớn cho quỹ để đảm bảo cân đối thu
chi từ đó giảm gánh nặng cho NSNN. Để hoạt động đầu tư thực hiện đúng
vai trò của nó thì phải đảm bảo những nguyên tắc như an toàn, tránh rủi ro,
có lãi và trên hết là thực hiện được lợi ích xã hội.
§¹i häc Kinh tÕ quèc d©n LuËn v¨n tèt
nghiÖp
2.4. Quản lí hoạt động cân đối quỹ.
BHXH là chính sách xã hội nên khác với các loại hình bảo hiểm
thương mại, BHXH hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận mà mục đích lớn
nhất là ổn định cuộc sống của người lao động. Do vậy cân bằng thu chi là
trạng thái mong muốn của mỗi nước khi triển khai thực hiện BHXH. Để cân
đối thu chi trên thực tế thường phải có sự hỗ trợ của NSNN, đồng thời thì
quỹ phải tìm cho mình những nguồn thu khác để đảm bảo cân bằng quỹ.
Trong đó các khoản chi và nguồn thu đã được trình bày ở trên. Quản lí cân
đối quỹ là việc làm hết sức quan trọng nhằm phát hiện ra những thay đổi dẫn
đến mất cân đối để có những biện pháp khắc phục kịp thời.
3. Các nhân tố ảnh hưởng tới hoạt động quản lí tài chính BHXH.
Đối với ngành quản trị nói chung và công tác quản lí tài chính BHXH
nói riêng thì việc xem xét các yếu tố tác động của môi trường tới hoạt động
của đối tượng quản lí là rất cần thiết. Các tác động của môi trường có thể
mang đến những thách thức cũng như những cơ hội cho chính bản thân các
hoạt động tài chính của BHXH. Muốn quản lí tốt, nhà quản trị cần nắm rõ
những yếu tố này để đưa ra những quyết định hợp lí và có lợi nhất cho đối
tượng quản lí. Các tác động của môi trường thường được chia làm hai loại là
tác động của môi trường ngoài hệ thống và tác động từ môi trường trong hệ
thống.
Tác động từ môi trường ngoài hệ thống bao gồm các ảnh hưởng từ
môi trường kinh tế- chính trị- xã hội của mỗi quốc gia. Nhìn rộng ra thì có
thể là cả những ảnh hưởng của môi trường thế giới. Khi chúng ta xem xét
các yếu tố của BHXH dưới giác độ của các công ước quốc tế mà Tổ chức
Lao động Quốc tế ( ILO) đã quy định. Nhưng các nhân tố môi trường trong
nước là quan trọng hơn. BHXH không chỉ là thể hiện tính ưu việt của mỗi
Nhà nước mà chính Nhà nước cũng là chủ sử dụng lao động lớn nhất trong
xã hội. Các chính sách, quyết định của Nhà nước tác động trực tiếp tới hoạt
động quản lí. Môi trường kinh tế như GDP, thu nhập bình quân đầu người,
giá cả, tình trạng nền kinh tế tăng trưởng hay khủng hoảng, mức sống tối
thiểu, các dịch vụ công cộng . Đây là các yếu tố tác động tới thu chi, cân
đối quỹ BHXH sao cho phù hợp đảm bảo ổn định cuộc sống cho người lao
§¹i häc Kinh tÕ quèc d©n LuËn v¨n tèt
nghiÖp
động. Bên cạch đó còn có các yếu tố như văn hoá, lối sống, truyền thống,
trình độ nhận thức, nó tác động đến mức độ chấp nhận, sự đồng tình thực
hiện của mỗi cá nhân trong xã hôi. Chẳng hạn như ở nước ta có truyền thống
“lá lành đùm là rách, lá rách ít đùm lá rách nhiều” rất phù hợp với mục đích
triển khai BHXH nên được mọi người đồng tình thực hiện. Tất cả những yếu
tố kể trên tác động tới nội dung của những quy định trong các quy chế quản
lí tài chính BHXH Việt Nam.
Những tác động của bản thân các yếu tố bên trong hệ thống như ý
thức tự giác của các đối tượng tham gia là người lao động và đặc biệt là chủ
sử dụng lao động. Yếu tố trình độ của các cán bộ trong ngành BHXH, điều
kiện làm việc, trang thiết bị phục vụ công tác, cũng ảnh hưởng trực tiếp
đến công tác quản lí tài chính BHXH. Trình độ cán bộ càng cao, cơ sở vật
chất kĩ thuật cang đầy đủ và hiện đại thì công tác quản lí tài chính BHXH
càng thuận lợi, thực hiện càng có hiệu quả.

III. Kinh nghiệm của một số nước về quản lí tài chính BHXH.
Tính đến năm 1993, trên thế giới đã có 163 nước thực hiện chính sách
BHXH, trong đó số các nước thực hiện chế độ hưu trí, tai nạn lao động, ốm
đau, thai sản là nhiều nhất lên tới 155 nước, chiếm khoảng 95%, ít nhất là
chế độ thất nghiệp là có khoảng 63 nước, chiếm 38,6%. Việc thực hiện các
chế độ là tuỳ thuộc vào điều kiện tình hình kinh tế, chính trị, xã hội của mỗi
nước. Tuy nhiên xu hướng chung hiện nay là đang dần thực hiện ngày càng
đầy đủ hơn các chế độ. Đối với lịch sử phát triển của ngành BHXH trên thế
giới thì BHXH Việt Nam còn rất mới, như vậy chúng ta cần học hỏi kinh
nghiệm của các nước đi trước.
1. Quản lí tài chính BHXH ciủa Cộng hoà Liên bang Đức.
So với các nước trên thế giới, Cộng hoà Liên bang Đức là nước có
lịch sử phát triển được coi như sớm nhất. Điều luật BHXH đầu tiên đã ra đời
và thực hiện từ những năm 1850. Cho đến nay, chính sách BHXH ở Đức bao
gồm 6 chế độ sau:
§¹i häc Kinh tÕ quèc d©n LuËn v¨n tèt
nghiÖp
+ Bảo hiểm thất nghiệp.
+ Bảo hiểm y tế.
+ Bảo hiểm chăm sóc sức khoẻ cho người già và người tàn tật.
+ Bảo hiểm ốm đau.
+ Bảo hiểm tai nạn lao động.
+ Bảo hiểm hưu trí.
Hoạt động BHXH của Cộng hoà Liên bang Đức thực hiện theo ba trụ
cột chính là:
- Hệ thống BHXH bắt buộc.
- Hệ thống BHXH tư nhân.
- Hệ thống BHXH ở các xí nghiệp.
Trong đó hệ thống BHXH bắt buộc được tổ chức theo mô hình tự
quản, bảo đảm tài chính theo phương pháp lấy thu bù chi. Hệ thống BHXH
tư nhân và hệ thống BHXH ở các xí nghiệp hoạt động theo Bộ luật Lao động
của Liên bang. Tự chịu là hình thức quản lí tương đối độc lập với sự chỉ đạo
của cơ quan quản lí Nhà nước cao nhất. Có thể hiểu rõ thông qua cơ chế
quản lí chung của Quỹ hưu trí sau. Cơ quan quản lí cao nhất là một Hội
đồng, hội động này bổ nhiệm Ban điều hành, từ Ban điều hành sẽ điều hành
mọi hoạt động của tổ chức. Hoạt động tài chính trong năm của Quỹ hưu trí
viên chức Liên bang diễn ra như sau:
Vào mùa hè hàng năm, các chuyên gia của Chính phủ Liên bang, tổ
chức BHXH, Tổng cục Thống kê sẽ dự kiến nhu cầu tài chính của năm tới
theo phương pháp ước tính. Từ đó đưa ra dự kiến số thu, dự kiến số chi, trên
cơ sở này xác định tỉ lệ thu cho năm tới và tiến hành đưa ra bằng một văn
bản có hiệu lực pháp luật. Quỹ thu thường là đủ dùng chi trả cho các đối
tượng hưởng chế độ, chi hoạt động của bộ máy quản lí và còn một khoản để
dự trữ gọi là khoản dự trữ trần. Do sự ổn định của nền kinh tế mà khoản dự
trữ này thường chỉ ở mức đủ chi cho các đối tượng do quỹ đảm bảo trong
một tháng, từ năm 2001 đã rút xuống khoản 0,8 tháng. Cách này có những
ưu điểm như: hạn chế được những tác động của môi trường kinh tế, dễ dàng
§¹i häc Kinh tÕ quèc d©n LuËn v¨n tèt
nghiÖp
cân đối quỹ, giảm thiểu tình trạng bội chi, không hề gây gánh nặng cho
NSNN, .
Cộng hoà Liên bang Đức không có các tổ chức BHXH thực hiện cùng
một lúc nhiều chế độ, mà thông thường mỗi tổ chức chỉ chịu trách nhiệm
thu, chi cho một loại chế độ nhất định. Điểm đáng lưu ý ở nước này là những
công chức Nhà nước ( những người được đề cử vào bộ máy quản lí Nhà
nước) không phải đóng BHXH, nhưng họ được nhận lương hưu khi hết tuổi
lao động. Khoản chi này được lấy từ nguồn thu thuế để trả. Có nhiều tổ chức
cùng tham gia thực hiện các chế độ BHXH, đặc biệt là sự có mặt của các tổ
chức BHXH tư nhân, có thể mang lại sự cạnh tranh giúp cho hoạt động
ngày càng hiệu quả.
2. Quản lí tài chính BHXH của Trung Quốc.
Ngay sau khi thành lập nước, Chính phủ Trung Quốc đã tiến hành
xây dựng một hệ thống an toàn xã hội, chủ yếu bao gồm BHXH, cứu trợ xã
hội, phúc lợi xã hội, trợ giúp xã hội. Trong các chế độ đó BHXH giữ vai trò
quan trọng nhất. Đến năm 1994, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội đã thông qua
Luật Lao động, trong đó chương IX có những quy định cải cách hệ thống
BHXH. Các chế độ BHXH chỉ được áp dụng ở các khu vực thành thị và
trong các doanh nghiệp. Tại các địa phương ở Trung Quốc đã cụ thể hoá các
chế độ, trong đó hai chế độ là hưu trí và thất nghiệp đã được xây dựng thành
Điều lệ, các chế độ khác về cơ bản còn là quy định tạm thời song có hiệu lực
khá cao.
Về nguyên tắc mỗi chế độ có một quỹ riêng. Nguồn quỹ gồm hai
khoản: Một khoản do chủ sử dụng lao động nộp và một khoản do người lao
động đóng. Riêng quỹ bảo hiểm tai nạn lao động thì chỉ do chủ sử dụng lao
động đóng. NSNN sẽ hỗ trợ khi mất cân đối thu chi do các nguyên nhân bất
khả kháng, còn các trường hợp khác tự người lao động và người sử dụng lao
động bảo đảm. Các quỹ nhìn chung được chia làm hai phần: Phần thứ nhất
được đưa vào tài khoản cá nhân gồm toàn bộ số tiền do người lao động đóng
và một phần do chủ sử dụng lao động đóng; Phần thứ hai được đưa vào quỹ
chi chung trong trường hợp cần thiết là phần đóng góp còn lại của chủ sử
dụng lao động. Qua đây chúng ta nhận thấy hiện nay có khá nhiều nước