Xem bản đẹp trên 123doc.vn

Tài liệu Chương 9: Chăn nuôi bò thịt pdf

Trường ðại học Nông nghiệp 1 - Giáo trình Chăn nuôi Trâu Bò


221


Chương 9
CHĂN NUÔI BÒ THỊT
Chương này chủ yếu nói về chăn nuôi bò theo hướng chuyên thịt, mặc dù trâu và các
loại bò khác (sữa, cày kéo) cũng ñóng góp một phần quan trọng trong tổng số lượng thịt bò
tiêu thụ hàng năm. Phần ñầu của chương trình bày một số quy luật phát triển của các mô
trong thân thịt nhằm làm cơ sở cho việc quyết ñịnh thời gian nuôi ñể ñạt ñược năng suất, chất
lượng thịt và hiệu quả kinh tế tối ưu. Tiếp theo là các chỉ tiêu ñánh giá và các nhân tố ảnh
hưởng tới năng suất và chất lượng thịt của bò. Phần kỹ thuật chăn nuôi nói về việc nuôi bê
trước vỗ béo và các phương pháp vỗ béo bò. Phân cuối của chương nói về các hình thức tổ
chức chăn nuôi và marketing sản phẩm thường ñược áp dụng trong ngành chăn nuôi bò thịt.
I. SỰ PHÁT TRIỂN CỦA CÁC MÔ TRONG THÂN THỊT
1.1. Mô xương
Mô xương là phần không ăn ñược. Tỷ lệ của nó trong thân thịt cao làm giảm giá trị
của thân thịt. Trâu bò thịt có bộ xương phát triển quá kém hoặc quá thô ñều không tốt.
Theo tuổi thì khối lượng tuyệt ñối của bộ xương tăng lên nhưng tốc ñộ phát triển tương
ñối thì giảm xuống, và tỷ trọng của bộ xương trong thân thịt giảm. Trong thời kỳ phát triển
thì cường ñộ phát triển của xương trục mạnh hơn xương ngoại vi làm cho cơ thể phát triển
theo chiều dài nhanh hơn chiều rộng, chiều cao. Nếu tính theo khối lượng cơ thể thì khi sơ
sinh bộ xương chiếm 22,73%, 18 tháng là 11,7% và 5 năm là 9,9%. Như vậy trong giai ñoạn
từ sơ sinh ñến 18 tháng tuổi, ñặc biệt là trước 14 tháng tuổi thì xương sinh trưởng nhanh.
1.2. Mô cơ
Giá trị của thân thịt tăng lên khi tỷ lệ cơ trong ñó tăng. Trong cơ thể trâu bò sự phát
triển của hệ cơ có liên quan ñến sự phát triển của hệ xương. Trong thời kỳ thai hệ cơ tứ chi
phát triển mạnh, còn cơ xương trục phát triển chậm, còn thời kỳ ngoài thai thì ngược lại.
Nhìn chung hệ cơ phát triển nhất trong 6 tháng ñầu, sau ñó giảm dần và ñặc biệt là sau 18
tháng thì tốc ñộ phát triển của cơ rất chậm.
Thành phần tổ chức học và hoá học của cơ cũng thay ñổi trong quá trình phát triển.
Chiều dài và ñường kính sợi cơ tăng lên, nước trong cơ giảm làm thịt giảm ñộ mềm và mịn.
1.3. Mô mỡ
Trong cơ thể mỡ ñược tích luỹ ở 3 vị trí: dưới da, trong cơ bắp và bao phủ mặt ngoài các
cơ quan nội tạng.
Sự tích luỹ mỡ trong cơ thể phụ thuộc nhiều vào mức ñộ dinh dưỡng. Lúc ñầu tích luỹ
mỡ rất kém, sau 6-9 tháng tuổi sự tích luỹ mỡ bắt ñầu tăng, nhưng cho ñến 12-14 tháng tuổi
cường ñộ tích luỹ mỡ bắt ñầu tăng, nhưng vẫn kém hơn tích luỹ ñạm. Sau 18 tháng tuổi tốc
ñộ tích luỹ mỡ tăng rõ rệt, ñặc biệt là khi vỗ béo.
Tuỳ theo mức ñộ phát triển mà thứ tự tích luỹ mỡ cũng có thứ tự rõ ràng. Lúc ñầu mỡ
tích luỹ ở nội tạng và giữa các lớp cơ, sau ñó ở dưới da và ñến cuối kỳ vỗ béo và ở gia súc
già mỡ tích luỹ ở trong cơ.
Trường ðại học Nông nghiệp 1 - Giáo trình Chăn nuôi Trâu Bò


222

Khi dinh dưỡng thiếu mỡ ñược huy ñộng trước tiên ở dưới da và nội tạng. Trong các
loại mỡ trên thì mỡ nội tạng ít có giá trị thực phẩm.
Thành phần hoá học của mỡ thay ñổi: nước giảm dần và mỡ thuần tăng lên, màu mỡ
chuyển từ trắng sang vàng (do tăng dự trữ caroten).
1.4. Mô liên kết
Thành phần cơ bản của các mô liên kết là các protein có giá trị dinh dưỡng thấp và làm
cho thịt cứng. Nếu mô liên kết quá ít thì làm cho thịt nhão, nhưng nếu quá nhiều sẽ làm giảm
giá trị dinh dưỡng của thịt.
So với các mô khác thì mô liên kết phát triển trong thời gian kéo dài nhất. Thịt trâu bò
cái giống sớm thành thục và con lai của chúng chưa ít mô liên kết hơn những con cùng tuổi
của các giống khác. Gia súc già không ñược vỗ béo thoả ñáng và gia súc nuôi dưỡng kém có
tỷ lệ mô liên kết cao làm giảm giá trị thực phẩm của thịt.
II. NĂNG SUẤT VÀ CHẤT LƯỢNG THỊT
2.1. Các chỉ tiêu ñánh giá năng suất và chất lượng thân thịt
a. Khối lượng bò
Bò thịt trước khi giết mổ phải ñể nhịn ñói 12-24 giờ. Cân khối lượng bò trước khi giết
mổ bằng các loại cân thích hợp. Trong trường hợp không có cân (hoặc khó cân) có thể xác
ñịnh khối lượng hơi của bò thông qua ño ñạc một số chiều ño (vòng ngực, dài thân chéo) rồi
tính toán theo một số công thức nhất ñịnh tuỳ theo giống và thể trạng của bò. Tuy nhiên, việc
xác ñịnh khối lượng bằng cách ño thường kèm theo sai số khá lớn.
b. Khối lượng và tỷ lệ thịt xẻ
Khối liượng thịt xẻ là khối lượng cơ thể bò sau khi ñã lọc da, bỏ ñầu (tại xương át lát),
phủ tạng (cơ quan tiêu hoá hô hấp, sinh dục vầ tiết niệu, tim) và bốn vó chân (từ gối trở
xuống).
Khối lượng thịt xẻ
Tỷ lệ thịt xẻ (%) = x 100
Khối lượng sống của bò
Những thành phần chính của thịt xẻ là xương, thịt và mỡ. Những nhân tố ảnh hưởng
ñến thành phần của thịt xẻ là tính biệt, giống và nuôi dưỡng.
Tỷ lệ thịt xẻ rất quan trọng ñối với sản xuất khi bán gia súc sống vì người mua cần biết
ñể ước tính khối lượng thịt xẻ từ khối lượng sống của cơ thể vật nuôi.
c. Khối lượng và tỷ lệ thịt tinh
Thịt tinh là khối lượng thịt ñược tách ra từ thịt xẻ. Khối lượng thịt tinh là phần có giá
trị cao nhất trong các thành phần của thịt xẻ.

Tổng khối lượng thịt tinh x 100
Tỷ lệ thịt tinh (%) =
Khối lượng sống của bò

Tổng khối lượng thịt tinh x 100
Tỷ lệ thịt tinh so với thịt xẻ (%) =
Khối lượng thịt xẻ
Trường ðại học Nông nghiệp 1 - Giáo trình Chăn nuôi Trâu Bò


223

Người ta phân chia thịt tinh ra làm nhiều loại tuỳ theo giá tri hàng hoá của chúng và tùy
theo phương pháp xả thịt của mỗi nước.
Việt Nam thường chia thịt tinh ra làm ba loại:
Loại 1: Bao gồm khối lượng thịt của hai ñùi sau, thăn lưng và thăn chuột.
Loại 2: Bao gồm khối lượng thịt của ñùi trước, thịt cổ vầ phần thịt ñậy lên lồng ngực.
Loại 3: bao gồm khối lượng thịt của phần bụng, thịt kẽ sườn và các thịt ñược lọc ra của
loại 1 và loại 2 (phần tề).

Khối lượng thịt loại 1 x 100
Tỷ lệ thịt loại 1 (%) =
Khối lượng thịt sống của bò

Khối lượng thịt loại 1 x 100
Tỷ lệ thịt loại 1 so với thịt xẻ (%) =
Khối lượng thịt xẻ

Khối lượng thịt loại 1 x 100
Tỷ lệ thịt loại 1 so với tổng số thịt (%) =
Khối lượng thịt tinh

Khối lượng thịt loại 2 x 100
Tỷ lệ thịt loại 2 (%) =
Khối lượng sống của bò

Khối lượng thịt loại 2 x100
Tỷ lệ thịt loại 2 so với thịt xẻ (%) =
Khối lượng thịt xẻ


Khối lượng thịt loại 2 x 100
Tỷ lệ thịt loại 2 so với tổng số thịt (%) =
Khối lượng thịt tinh

d. Khối lượng và tỷ lệ xương
Khối lượng xương của bò là khối lượng của xương ñược tách ra từ thịt xẻ.

Khối lượng xương x 100
Tỷ lệ xương (%) =
Khối lượng sống của bò

Khối lượng xương x 100
Tỷ lệ xương so với thịt xẻ (%) =
Khối lượng thịt xẻ
e. Khối lượng và tỷ lệ mỡ
Trường ðại học Nông nghiệp 1 - Giáo trình Chăn nuôi Trâu Bò


224

Mỡ bò ñược chia ra làm 3 phần: Mỡ bao ngoài phần thịt, dưới da, mỡ xen kẽ trong các
cơ và mỡ thành từng ñám trong phần bụng và phần ngực.
Người ta chỉ có thể tách ra ñược mỡ bao ngoài phần thịt và mỡ trong phần bụng và
ngực. Thu lại phần mỡ này và cân lên. ðó chính là khối lượng mỡ của bò.

Khối lượng mỡ x 100
Tỷ lệ mỡ (%) =
Khối lượng sống của bò


Khối lượng mỡ x 100
Tỷ lệ mỡ so với thịt xẻ (%) =
Khối lượng thịt xẻ

g. ðộ dày mỡ dưới da
ðộ dày mỡ dưới da ñược ño ở xương sườn 12 vuông góc với lớp mỡ ngoài tai ñiểm ở
3/4 chiều dài cơ thăn lưng (hình 9.1). Khi ñộ dày mỡ dưới da tăng thì tỷ lệ thịt tinh sẽ giảm.



Hình 9.1: Vị trí ño ñộ dày mỡ Hình 9.2: ðo diện tích mắt thịt
bằng phương pháp mắt lưới
g. Diện tích mắt thịt
Diện tích mắt thịt (mặt cắt cơ thăn lưng) ñược ño ở vị trí xương sườn 12 bằng cách sử
dụng ô mắt lưới (hình 9.2). Diện tích mắt thịt là một chỉ tiêu phản ánh lượng cơ có trong thân
thịt. Khi diện tích mắt thịt tăng thì tỷ lệ thịt tinh tăng.
2.2. Các chỉ tiêu ñánh giá chất lượng thịt
a. ðộ mềm của thịt
ðộ mềm là cảm giác nhận biết của con người khi cắn và nhai thịt. Thịt bò mềm có chất
lượng tốt. ðộ mềm của thịt chịu ảnh hưởng của tính biệt, tuổi giết thịt, dinh dưỡng và bảo
quản. Khi bê giết thịt ở tuổi còn non, dinh dưỡng tốt, bê ñực hoặc thiến thịt có ñộ mềm cao
hơn.

§o ®é dµy mì


3/4 chiÒu dµi
c¬ th¨n l−ng
Trường ðại học Nông nghiệp 1 - Giáo trình Chăn nuôi Trâu Bò


225

ðộ mềm thịt ñược ño bằng cách ño cơ học, cách này phỏng theo các hoạt ñộng của
miệng và răng. Các tiến bộ kỹ thuật ñều có thể ñược sử dụng ñể thực hiện ñược việc ño.

ðể
xác ñịnh ñộ mềm người ta có thể dùng một số phương pháp khác nhau. Sau ñây là một vài ví
dụ:
- Kiểm tra nhanh chóng bằng cách ấn ngón tay vào thịt. Thịt chất lượng cao khi ấn tay
có cảm giác mềm, sau khi bỏ tay ra thịt nhanh chóng trở về trạng thái cũ.
- Kiểm tra bằng phương pháp xác ñịnh nước nội dịch. Lấy một gam thịt tươi cắt khối
lập phương. ðặt mẫu trên tấm kính có giấy hút nước. Diện tích tấm kính 10 cm
2
, dầy 5 mm.
Sau ñó ñậy lên trên tấm kính có cùng kích cỡ trên, ñè lên tấm kính 1 quả cân có khối lượng 1
kg. Sau ñó ñể một giờ, nước trong thịt sẽ loang ra giấy lọc. ðo diện tích của nước thịt thấm
vào giấy lọc là phần nước nội dịch trong thịt. Nước nội dịch càng cao, thịt càng ngọt mềm.
- Cách ño ñộ mềm ñược sử dụng rộng rãi nhất hiện nay là thiết bị có tên là máy cắt lực
Warner-Bratzler. Máy này gồm một ñĩa thép trong chứa một hốc hình vuông. ðặt miếng thịt
vào trong hốc vuông, kéo cái ñĩa thép ra khỏi miếng thịt trong khi hai ñầu của miếng thịt ñược
giữ bằng các mẩu kim loại khác. Lực kéo ñĩa thép ra khỏi miếng thịt ñược ghi lại thành các
ñiểm trên ñồ thị (hình 9.3). Lúc ñầu lực này tăng lên do thiết bị kéo trên miếng thịt, sau ñó có
một ñiểm gẫy, ñiểm gẫy này ñược gọi là lực khởi ñầu (IY). Lực tiếp tục tăng lên cho tới khi
ñạt lực ñỉnh (PF). Tại ñiểm ñỉnh này, miếng thịt bị ñứt làm ñôi và lực sẽ bị tụt xuống.












Hai lực ño ñược gồm lực khởi ñầu (IY) và PF – IY (lực ñỉnh trừ lực khởi ñầu) liên quan
tới hai cấu trúc ñóng góp cho ñộ mềm của thịt. Một thành phần của cơ là các bó dài hình sợi
bằng protein là các myofibril, chúng là giá ñỡ cơ và là các mẩu tạo nên sức làm việc của cơ.
Khi cơ co, các bó này ngắn lại và khi dãn chúng dài ra. Một thành phần khác giống như mạng
lưới là các mô liên kết ñể bó các myofibril lại với nhau, chúng tương tự như gân. Các mô này
trải dọc theo cá sợi cơ thành một cấu trúc lưới liên kết chéo. Trong sơ ñồ lực Warner-
Bratzler, ta có thể xem ñộ mềm của myofibril ứng với lượng khởi ñầu (IY), lực ñể làm ñứt cơ
là từ lực khởi ñầu tới lực ñỉnh (PF-IY) do các mô liên kết quyết ñịnh.
b. ðộ pH của thịt
Sau khi con vật chết, tuy không còn việc cung cấp oxy nhưng các quá trình khác vẫn xảy ra trong cơ
bắp cho tới khi cạn kiệt hết glycogen. Do ñó, ñộ pH trong thịt tươi sẽ giảm xuống và ñiều này cho phép giữ

Thêi gian

(gi©y)

Lùc khëi ®Çu

(IY)


Lùc
®
Ønh

(
PF
)

Lùc

Hình 9.3: Máy ño ñộ mềm của thịt Warner-Bratzler
Trường ðại học Nông nghiệp 1 - Giáo trình Chăn nuôi Trâu Bò


226

thịt ñược lâu hơn. ðộ pH trong cơ bắp của bò sống vào khoảng 7 (trung tính giống như nước). Thịt tốt có
ñộ pH dưới 5,8, ñiều này có nghĩa là thịt có nhiều axit hơn cơ bắp khi con vật còn sống.
Nếu ñộ pH thấp thì thịt sẽ mềm và cho phép bảo quản ñược lâu hơn. Do vậy, việc hạ ñộ pH của thịt
rất quan trọng vì sau ñó thịt cần tiếp tục ñược giữ thêm một thời gian. Làm lạnh nhanh thịt sẽ không hạ
ñược ñộ pH do ñã làm ngừng trao ñổi chất. Kích thích ñiện ñảm bảo cho ñộ pH hạ xuống dưới 5,8.
ðôi khi, trước lúc con vật bị giết, cơ không ñủ ñường. Không có ñủ ñường trong cơ, ñộ
pH không thể giảm xuống dưới 5,8 và thịt sẽ bị dai, có màu sẫm, khô và chắc. ðiều này sẽ
xảy ra khi bò bị tress trước lúc giết thịt. ðường có thể bị sử dụng hết khi con vật bị một stress
cấp tính, chẳng hạn khi nhốt chung các con vật khác ñàn vào với nhau hoặc con vật bị dồn
ñuổi. ðường cũng bị sử dụng hết khi con vật bị stres kéo dài, chẳng hạn khi vận chuyển
chúng, khi chúng gặp thời tiết quá nóng hoặc quá lạnh, bị mất nước. Khả năng bổ sung ñường
vào cơ bắp của bò rất chậm nên trước lúc giết thịt nếu con vật gặp bất cứ một stress nào thì
khi giết mổ cơ bắp của nó sẽ không ñủ ñường và do vậy mà ñộ pH không hạ thấp xuống ñược
mức cần thiết.
ðộ pH của thịt ñược ño bằng giấy quỳ hoặc máy ño pH.
c. Vân thịt (marbling)
Vân thịt, hay ñốm mỡ dắt trong thịt nạc, là một yếu tố ñược quan tâm nhiều khi ñánh giá
chất lượng thịt. Vân thịt ñược ñánh giá bằng mắt trên mắt thịt giữa xương sườn thứ 12 và 13.
Mặc dù nó chỉ có ảnh hưởng chút ít tới ñộ mềm của thịt nhưng có lẽ nó có ảnh hưởng nhiều
ñến các tính trạng về ñộ ngon miệng (mùi, vị). Vân thịt có thể ñược ñánh giá theo 10 cấp từ
Rất nhiều cho ñến Không như ở hình 9.4 (Trong hình này cấp Không không ñược thể hiện).




Rất nhiều Nhiều Khá nhiều



Hơi nhiều Trung bình Hơi ít



Trường ðại học Nông nghiệp 1 - Giáo trình Chăn nuôi Trâu Bò


227

Ít Rất ít Vết
Hình 9.4: Giới hạn dưới của các cấp vân thịt
d. Mùi vị của thịt
Phương pháp kiểm tra mùi vị thịt thường ñược thực hiện bằng cách giới thiệu thịt cho
người tiêu dùng ở siêu thị hoặc ở tiệm ăn và ñề nghị mọi người ñiền các câu trả lời vào phiếu
ñiều tra. Phương pháp này chỉ thực hiện ñược khi có một số lượng mẫu ñủ lớn. Cách giải
quyết là huấn luyện một nhóm người sành ăn nếm thử. Cách giải quyết khác ñể ñánh giá cảm
quan là sử dụng một hội ñồng ñể kiểm tra mùi vị thịt gồm những người bình thường. Khi
kiểm tra thịt, họ có thể ñưa ra các ý kiến phân tán và các kết quả này ñược xử lý thống kê ñể
ñảm bảo mọi ý kiến ñều ñược tham gia vào việc ñánh giá. Mỗi mẫu thịt sẽ ñược một số người
kiểm tra, họ ñánh giá mùi vị thịt cùng với ñộ mềm và ñộ giữ nước, cuối cùng họ xem xét khả
năng chấp nhận.
e. Màu sắc của thịt
Thịt bò có chất lượng tốt là thịt bò có màu ñỏ hồng hoặc hồng nhạt tuỳ theo vị trí của
cơ. Thịt có màu ñỏ sẫm là thịt bò thải loại ñã già. Mỡ bò càng vàng sẫm bò càng nhiều tuổi.
Màu sắc của thịt thay ñổi theo ñộ axit trong thịt. Thịt có màu ñỏ sáng có ñộ pH thấp
hơn 6, thịt màu ñỏ sẫm có ñộ pH = 6,0 hoặc lớn hơn.
f. Thành phần hoá học của thịt
Có 2 chỉ tiêu quan trọng ñể ñánh giá chất lượng thịt là:
- Trytophan cao thì chất lượng thịt tốt.
- Oxyproline cao thì phẩm chất thịt kém.
2.3. Chất lượng thịt và thị hiếu ẩm thực
Chất lượng thịt bò còn ñược ñánh giá thông qua thị hiếu ẩm thực của người tiêu dùng.
Thị hiếu này thay ñổi giữa các nước, các khu vực khác nhau trên thế giới, thay ñổi theo thời
gian và tầng lớp giàu nghèo trong xã hội. Chính vì vậy mà người chăn nuôi phải tìm cách
(thông qua chọn giống, nuôi dưỡng và xác ñịnh tuổi giết thịt) nhằm tạo ra ñược sản phẩm phù
hợp với thị hiếu của người tiêu dùng của từng thị trường cụ thể. Người châu Âu và Australia
thích thịt bò mềm, màu ñỏ nhạt, ít mỡ, nên người ta thường giết thịt bò lúc còn tương ñối non
(15-18 tháng tuổi). Trái lại người tiêu dùng ở Nhật Bản và nhiều nước châu Á lại ưa chuộng
thịt bò có nhiều mỡ dắt và dậy mùi bò nên bò thường ñược giết thịt muộn hơn (3-4 tuổi).
Việt nam có hơn 80 triệu dân, là một thị trường tiêu thụ thịt bò nhiều tiềm năng. Người
Việt Nam có khẩu vị và thị hiếu riêng của mình. Do vậy khi phát triển ngành chăn nuôi bò thịt
cần chú ý ñến thị trường này và không nên áp ñặt các tiêu chuẩn chất lượng thịt bò của các thì
trường khác cho thị trường trong nước, trừ khi chăn nuôi bò thịt ñể xuất khẩu. Không nên lấy
tiêu chuẩn ñánh giá chất lượng thịt của một nước/thị trường này áp ñặt cho một nước/thị
trường khác.

III. NHỮNG NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ðẾN SỨC SẢN XUẤT THỊT
3.1. Tuổi giết thịt
Trong quá trình phát triển của cơ thể khối lượng, thành phần hình thái học của cơ thể
thay ñổi theo tuổi. Dưới 1 năm tuổi sự lớn lên của cơ thể chủ yếu là kết quả của sự tích luỹ
các mô cơ và xương. ðến 1,5 tuổi sự tích luỹ protein, tức là sự phát triển của tế bào cơ vẫn
Trường ðại học Nông nghiệp 1 - Giáo trình Chăn nuôi Trâu Bò


228

nhanh, còn tỷ lệ tương ñối của mô xương có xu hướng giảm thấp. Sau 18 tháng tuổi tốc ñộ
tăng trưởng của tế bào cơ giảm, hàm lượng nước giảm, sự tích luỹ mỡ tăng lên (giá trị năng
lượng tăng), còn mô liên kết giảm.
Thành phần hoá học của thịt cũng thay ñổi theo tuổi. Tuổi càng cao thì sự tích luỹ mỡ
dưới da và mỡ nội tạng tăng lên. Như vậy khi tuổi tăng lên thì hàm lượng tương ñối của
xương và mô liên kết giảm còn tỷ lệ thịt và mỡ sẽ tăng lên. Khi giết thịt ở 18 tháng tuổi mỡ
tích luỹ trong cơ bắp cao hơn mỡ nội tạng. Sau 18 tháng tuổi, do sự thay ñổi trao ñổi chất,
khả năng tích luỹ nitơ giảm, còn tích luỹ mơ tăng:
Sơ sinh 18 tháng 48 tháng
Protein (%) 18,25 17,18 12,5
Mỡ (%) 3,64 26,74 44,30

3.2. Giống
Giống có ảnh hưởng lớn ñến năng suất và phẩm chất thịt. Dựa vào phẩm chất và sức sản
xuất thịt nguời ta chia ra các nhóm bò như sau:
- Bò thịt: có các giống nổi tiếng như Hereford, Santa gertrudis, Shorhorn v.v. Tốc ñộ sinh
trưởng của những bò này nhanh (1-1,5 kg/ngày ñêm), tỷ lệ thịt xẻ 65-70%, mỡ tích luỹ trong
cơ thể sớm.
- Bò kiêm dụng sữa thịt: như bò Red Sindhi, Brown Swiss v.v. Những bò này cũng có khả
năng tăng trọng khá cao (0,6-0,8 kg/ngày ñêm), phẩm chất thịt ngon, tỷ lệ thịt xẻ ñạt 59-60%.
- Bò sữa: như bò Holstein Friesian. Những bò này có sự phát triển cơ bắp kém, tỷ lệ thịt
xẻ thấp. Các giống bò sữa và kiêm dụng thường thích luỹ ít mỡ trong thân thịt mà mỡ chủ
yếu tích luỹ trong khoang bụng. Cơ bắp của nhưng gia súc này phát triển kém, tỷ lệ thịt xẻ
thấp.
- Trâu bò cày kéo: cơ bắp phát triển tốt, nhưng mỡ tích luỹ trong cơ thấp, thịt cứng và thô.
Tuy giống tuy ít ảnh hưởng trực tiếp tới tính ngon miệng của thịt nhưng ảnh hưởng này
lại có ý nghĩa. Cần chú ý là yếu tố giống chỉ gây ñược 5% mức biến ñộng của ñộ mềm thịt bò,
phần lớn mức biến ñộng là do các yếu tố khác. ðộ mềm của thịt có khả năng di truyền ñối với
bò nhiệt ñới, nghĩa là có thể chọn lọc ñể cải tiến ñộ mềm của thịt bò nhiệt ñới, nhưng ñiều này
không thực hiện ñược ñối với bò ôn ñới. Lai giống cũng ñã ñược chấp nhận ñể tăng tốc ñộ
sinh trưởng và chất lượng thịt.
3.3. Tính biệt và thiến
Thông thường ở các cơ sở chăn nuôi lấy thịt người ta giết thịt vào 15-18 tháng tuổi. Con
ñực thường có hoạt ñộng sinh dục vào 9-12 tháng tuổi. Nhiều nghiên cứu cho thấy rằng bê
ñực không thiến ñạt tốc ñộ sinh trưởng cao hơn, hiệu quả sử dụng thức ăn tốt hơn nên chi phí
thức ăn/kg tăng trọng thấp hơn so với ñực thiến. Tuy nhiên sự tích luỹ mỡ trong cơ bắp ở bê
ñực thiến cao hơn và sớm hơn bê ñực không thiến. Bê cái chậm lớn hơn bê dực cùng tuổi.
3.4. Nuôi dưỡng
Sức sản xuất thịt của bê trước tiên phụ thuộc vào mức ñộ dinh dưỡng. Có thể thấy mức
ñộ ảnh hưởng của các mức dinh dưỡng khác nhau ñến thành phần của các mô trong thân thịt
của bê qua kết quả thí nghiệm trong bảng 9.1. Mức ñộ dinh dưỡng cao thì tỷ lệ mỡ và cơ
Trường ðại học Nông nghiệp 1 - Giáo trình Chăn nuôi Trâu Bò


229

trong thân thịt cao, còn mô liên kết và xương giảm thấp. Mức dinh thấp làm giảm giá trị năng
lượng của thịt và tăng tỷ lệ xương và mô liên kết.

Bảng 9.1: ảnh hưởng của mức dinh dưỡng thành phần thân thịt
Tỷ lệ các mô trong thân thịt (%)
Mức nuôi
dưỡng
Cơ Mỡ Mô liên kết Xương và sụn
Cao 56,6 16,1 11,5 15,7
Trung bình 59,7 10,3 12,3 17,5
Thấp 60,0 3,6 14,3 21,6

3.5. Stress môi trường
Các yếu tố môi trường ảnh hưởng ñến sức sản xuất thịt bò trong quá trình nuôi và vỗ
béo ñược phân làm 3 loại: các yếu tố về thời tiết-khí hậu (nhiệt ñộ, ẩm ñộ, ánh sáng), các yếu
tố về lý hoá (ánh sáng, nước, chất lượng thức ăn, số lượng bò vỗ béo, cấu trúc chuồng trại…),
và các yếu tố về sinh học (vi sinh vật gây bệnh, ký sinh trùng và côn trùng…). Những yếu tố
này có liên quan lẫn nhau và ảnh hưởng ñến sức khoẻ và sức sản xuất thịt của bò. Trong các
yếu tố này thì ảnh hưởng của nhiệt ñộ môi trường là yếu tố ñược quan tâm nhiều nhất.
IV. NUÔI BÊ TRƯỚC VỖ BÉO

Có nhiều phương pháp khác nhau nuôi bê trong giai ñoạn kể từ sau khi cai sữa ñến trước
lúc vỗ béo. Mỗi phương pháp có ưu và nhược ñiểm riêng của nó. Không phải tất cả các
phương pháp ñều áp dụng tốt cho mỗi loại bò. Có một số loại bò thích hợp nhất với việc vỗ
béo ngay sau khi cai sữa, trong khi ñó ñối với những loại khác thì tốt nhất là vỗ béo sau một
thời gian bê ñã ñược nuôi sinh trưởng tăng cường. Sau ñây là một số phương pháp thường
ñược áp dụng ñể nuôi bê trước vỗ béo.
4.1. Nuôi chuẩn bị bê ñể vỗ béo sớm sau cai sữa
Phương pháp nuôi chuẩn bị bê ñể vỗ béo sớm sau cai sữa (preconditioning) là phương
pháp nuôi huấn luyện bê ngay sau khi cai sữa ñể ñưa ñi vỗ béo ở một nơi khác. Thời gian
nuôi chuẩn bị này thường kéo dài khoảng 30-45 ngày. Chương trình nuôi huấn luyện thường
bao gồm những bước sau ñây:
- Cai sữa bê trước khi chuyển ñi vỗ béo. Bước này làm giảm ñáng kể stress cho bê trong
quá trình cai sữa, vận chuyển và tân ñáo tại cơ sở vỗ béo. Bê ñược “cai sữa trên xe” rất dễ bị
ốm tại nơi vỗ béo hơn là bê ñược cai sữa trước khi chuyển ñi.
- Tiêm phòng khi bê còn theo mẹ và tiêm phòng tăng cường trước khi xuất khỏi trại.
- Chuẩn bị cho bê bước vào vỗ béo bằng cách giúp chúng làm quen với việc lấy thức ăn
từ máng và uống nước từ vòi.
Quan tâm chính của phương pháp này là giữ cho bê khoẻ mạnh và chuẩn bị cho chúng
bước vào vỗ béo ñược tốt. Thức ăn hạt trong thời kỳ cai sữa nên hạn chế tới mức tối thiểu. ðể
tập cho bê quen lấy thức ăn từ máng (như khi vỗ béo), cho cỏ khô dài vào trong máng trong
Trường ðại học Nông nghiệp 1 - Giáo trình Chăn nuôi Trâu Bò


230

4-7 ngày ñầu sau cai sữa. Trong thời gian này cung cấp thức ăn hạt chất lượng tốt hay thức ăn
bổ sung ñạm ở dưới cỏ khô. Mấu chốt là ở chỗ dùng thức ăn ngon miệng ñể làm cho bê ñến
với máng ăn. Không dùng các loại thức ăn lên men như cỏ ủ chua trong 4-7 ngày ñầu vì hầu
hết bê chưa quen với mùi của những thức ăn này. Không dùng thức ăn nghiền mịn vì như vậy
sẽ có nhiều bụi và tính ngọn miệng sẽ giảm. Thức ăn bột có thể dễ làm cho bê mắc các bệnh
hô hấp sau khi mới cai sữa.
Bê quen với uống nước từ ao, hồ, sông, suối có thể không biết uống nước từ vòi. Trong
trường hợp này nên ñể cho vòi nước chảy liên tục trong một thời gian ñể cho bê nghe tiếng
nước chảy. Âm thanh quen thuộc của tiếng nước chảy sẽ làm cho bê ñến với vòi nước.
Ưu ñiểm chính của phương pháp này là hạn chế ñược nguy cơ bệnh tật khi bê ñưa vào
vỗ béo nhờ việc cai sữa cẩn thận và tiêm phòng ñầy ñủ. Việc tập cho bê ăn quen trong máng
cũng làm cho bê bước vào chế ñộ vỗ béo ñược nhanh chóng. Tuy nhiên, một nhược ñiểm của
phương pháp này là giá bán bê loại này có thể cũng không cao hơn các loại bê khác mặc dù
ñã tốn nhiều công sức huấn luyện.
4.2. Nuôi bê qua ñông
ðây là phương pháp sử dụng nhiều thức ăn thô (cỏ khô, phụ phẩm nông nghiệp, cỏ tự
nhiên…) ñể nuôi bê với tăng trọng thấp trong vụ ñông trước vỗ béo. Thông thường thì
phương pháp này ñược áp dụng ñể chuẩn bị bê trước khi ñưa ra chăn thả vỗ béo trên ñồng cỏ
vào vụ hè tiếp ñó. Mục ñích của phương pháp này chỉ ñơn thuần là giảm thiểu chi phí thức ăn
trong vụ ñông mà vẫn bảo toàn ñược bê khoẻ mạnh. Khi cho bê ra chăn thả trên ñồng cỏ
(khoảng 12-15 tháng tuổi) vào vụ cỏ tốt bê sẽ có sinh trưởng bù và do vậy giá thành tăng
trọng sẽ thấp. Phương pháp này thích hợp với các giống bò thịt nhỏ (cần thời gian qua ñông
ñể tăng trưởng khung xương), nhưng không thích hợp với những giống bò to (vì nuôi dài
ngày chúng sẽ quá lớn so với yêu cầu của thị trường).
4.3. Nuôi bê sinh trưởng vừa phải
Phương pháp này thường sử dụng kết hợp thức ăn thô và bổ sung một lượng thức ăn
tinh nhất ñịnh ñể nuôi bê có ñược tăng trọng vào khoảng 0,7-1,1kg/con/ngày. Phương pháp
này cho phép sử dụng ñược một số loại thức ăn chủ ñộng, không ñắt tiền, thậm chí cả các loại
phụ phẩm ñể nuôi bê. ðây là phương pháp nuôi phù hợp với bò có thể vóc trung bình.
4.4. Nuôi bê sinh trưởng nhanh
ðây là phương pháp nuôi bê sinh trưởng càng nhanh càng tốt. Khẩu phần ăn cho bê có
lượng thức ăn tinh gần với lượng thức ăn tinh có trong khẩu phần vỗ béo. Tăng trọng mong
muốn theo phương pháp này là trên 1,3 kg/con/ngày. ðây là phương pháp phù hợp với các
giống bò khung to. Ưu ñiểm chính của phương pháp này là khai thác ñược tiềm năng di
truyền của các giống bò thịt có tốc ñộ sinh trưởng nhanh. Tuy nhiên, phương pháp này ñòi hỏi
phải có trình ñộ chăm sóc nuôi dưỡng cao vì bê dễ gặp nguy cơ rối loạn tiêu hoá.
V. VỖ BÉO
Vỗ béo là nuôi dưỡng ñặc biệt với mức ăn dồi dào, khẩu phần có giá trị hoàn thiện nhằm
mục ñích thu ñược ở con vật một lượng thịt tối ña với chất lượng thoả ñáng. Có rất nhiều
phương pháp vỗ béo khác nhau và phương pháp quản lý bò vỗ béo cũng khác nhau tuỳ theo
phương pháp vỗ béo. Phương pháp quản lý thường không cố ñịnh vì nó phải thay ñổi tuỳ theo
các yếu tố như ñặc ñiểm của giống bò, ñiều kiện nuôi dưỡng và tiêu chuẩn thịt bò mà thị
trường yêu cầu. Thời gian vỗ béo tuỳ thuộc vào tuổi, ñộ béo của bò trước khi vỗ béo và yêu
Trường ðại học Nông nghiệp 1 - Giáo trình Chăn nuôi Trâu Bò


231

cầu của thị trường về khối lượng bò, chất lượng thịt v.v. Thông thường thời gian vỗ béo là
60-90 ngày.
5.1. Các kiểu vỗ béo
Căn cứ vào ñối tượng ñưa vào vỗ béo có thể chia ra các kiểu vỗ béo như sau:
a. Vỗ béo bê lấy thịt trắng
ðây là kiểu vỗ béo bê sữa trước 3-4 tháng tuổi. Thông thường chỉ dùng bê ñực, ñặc biệt
là bê ñực hướng sữa. Nuôi bê chủ yếu bằng sữa nguyên và sữa thay thế. Mức sữa cung cấp
khoảng 12-16 lít/ngày nếu yêu cầu tăng trọng không dưới 1000 g/ngày. Nếu yêu cầu tăng
trọng thấp hơn một ít (không dưới 900g/ngày) thì bên cạnh sữa có thể cho ăn thêm cỏ khô,
thức ăn tinh và củ quả.
Hiện nay ở nước ta “bê thui” rất ñược ưa chuộng, nhưng bê thường ñược giết sớm mà
không qua vỗ béo nên không khai thác ñược hết tiềm năng cho thịt của bê. Hơn nữa, trong
chăn nuôi bò sữa, bê ñực thường ñược giết trong vòng tuần ñầu sau khi cho ăn hết sữa ñầu,
trong khi có thể vỗ béo thêm trong một thời gian trước khi giết thịt. Trong thời gian tới khi
nhu cầu và giá thịt bê tăng cao thì ñây có thể là một hướng phát triển quan trọng trong chăn
nuôi bò ở nước ta.
b. Vỗ béo bê sớm sau cai sữa
Bê ñược ñưa vào vỗ béo ngay sau khi cai sữa hay sau một thời gian huấn luyện 30-45
ngày. Hình thức này phù hợp cho những cơ sở vỗ béo thương phẩm hơn là các trang trại chăn
nuôi hỗn hợp. Bê thuộc các giống bò thịt có tầm vóc lớn hay bê ñực hướng sữa thích hợp với
kiểu vỗ béo này (không cần thời kỳ nuôi bê sinh trưởng kéo dài).
c. Vỗ béo bò non
ðối tượng vỗ béo phổ biến nhất hiện nay ở các nước là bê (cả ñực và cái) ở ñộ tuổi từ 1-
1,5 tuổi (bò non). Thức ăn tinh trong khẩu phần không dưới 30% giá trị năng lượng và có thể
tăng lên ở giai ñoạn cuối. Trước khi ñưa vào vỗ béo ñàn bê ñã trải qua một thời kỳ nuôi sinh
trưởng theo một trong các phương thức ñã trình bày trong các mục 4.2-4.4. Bê ñực hướng sữa
không làm giống cũng có thể vỗ béo trước khi giết thịt ở dộ tuổi này.
c. Vỗ béo bò trưởng thành
Bò sữa, bò sinh sản, các loại bò khác trước khi ñào thải ñược qua một giai ñoạn nuôi vỗ
béo ñể tận thu lấy thịt. ðặc biệt trong chăn nuôi bò thịt việc sinh sản thường ñược ñiều khiển
theo mùa vụ. Sau một vụ phối giống những bò cái không thụ thai sẽ ñược loại thải ñể ñưa vào
vỗ béo khai thác thịt mà không nuôi ñể chờ ñến vụ phối giống sau vì như thế sẽ không kinh
tế. Thời gian nuôi béo thông thường là 2-3 tháng phụ thuộc vào ñộ béo ban ñầu và nguồn
thức ăn. Không nên kéo dài thời gian võ béo quá 3 tháng vì lúc này bò sẽ có tăng trọng kém,
hiệu quả chuyển hoá thức ăn thấp và do ñó mà hiệu quả kinh tế sẽ bị hạn chế.
5.2. Khẩu phần thức ăn ñể vỗ béo
Căn cứ vào nguồn thức ăn chính dùng trong khẩu phần ñể vỗ béo có thể chia ra các hình
thức vỗ béo như sau:
a. Vỗ béo bằng thức ăn xanh
Hình thức này ñược thực hiện trong mùa vụ nhiều cỏ xanh. Có 2 cách vỗ béo bằng thức
ăn xanh:
Trường ðại học Nông nghiệp 1 - Giáo trình Chăn nuôi Trâu Bò


232

- Vỗ béo trên ñồng cỏ: Trên cơ sở ñiều khiển sinh sản sẽ có ñược những ñàn bê ñồng
ñều và ñến giai ñoạn ñưa vào vỗ béo thì năng suất ñồng cỏ cao. Lúc ñó ñàn bê dược chăn thả
luân phiên trên ñồng cỏ với thời gian từ 12-24 giờ/ngày. Trong thời gian chăn thả bê sử dụng
ñược một lượng lớn thức ăn xanh trên ñồng cỏ. Tuy vậy, cũng cần cung cấp cho chúng một
lượng thức ăn tinh nhất ñịnh: giai ñoạn ñầu vỗ béo 20-25% và cuối giai ñoạn vỗ béo 30-35%
giá trị nănng lượng của khẩu phần.
- Vỗ béo tại chuồng: Áp dụng ñối với những nơi không có ñồng cỏ chăn thả nhưng lại
có ñiều kiện ñể thâm canh ñồng cỏ thu cắt với năng suất cao. Cỏ ñược thu cắt và cho ăn tại
chuồng kết hợp cùng với thức ăn tinh.
b. Vỗ béo bằng thức ăn ủ xanh
ðối với những cơ sở tự túc ñược thức ăn có thể vỗ béo bằng thức ăn ủ xanh trong vụ
thiếu cơ xanh. Hiện nay ở các nước tiên tiến thức ăn ủ xanh thậm chí ñược sử dụng quanh
năm vì cho ăn thức ăn này lấy từ silo rất tiện lợi cho việc phối trộn với thức ăn tinh và thức
ăn bổ sung ñể tạo thành khẩu phần hoàn chỉnh (TMR) có thể phân phát dễ dàng thông qua
một hình thức cơ giới hoá hay tự ñộng hoá.
Thức ăn ủ xanh không cân bằng dinh dưỡng nên khi nuôi bò cần bổ sung thêm các
chất dinh dưỡng cần thiết. Là thức ăn thô có năng lượng tiêu hoá thấp nên nếu chỉ cho ăn
thức ăn ủ xanh sẽ không ñảm bảo ñược tốc ñộ sinh trưởng tối ưu cho bò thịt. Do vậy, một
lượng thức ăn tinh nhất ñịnh (25-30% hoặc cao hơn) phải cho ăn cùng ñể cung cấp ñủ năng
lượng cho nhu cầu sản xuất của bò. Khối lượng thức ăn ủ xanh trong khẩu phần phụ thuộc
chất lượng và hàm lượng axit hữu cơ trong ñó. Khẩu phần thích hợp chứa 50-65% thức ăn ủ
xanh. Nếu thức ăn ủ xanh chứa nhiều axit thì phải trung hoà bớt bằng dung dịch nước vôi
1,5-2%, hay dùng dung dịch ammoniac 25% với 12-14 lít/tấn. Ngoài ra, trong khẩu phần nên
có một lượng cỏ khô khoảng 5-15% (0,8-1kg/100kg P).
Thức ăn ủ xanh thường nghèo protein và ñường, do ñó ñể nâng cao hiệu quả sử dụng
thức ăn ủ xanh trong khẩu phần cần bổ sung thêm các thức ăn chứa nhiều N/protein và ñường
dễ tan. Nhiều nghiên cứu cho thấy rằng bổ sung urê trong khẩu phần ñược cân bằng tốt hoàn
toàn thoả mãn ñược nhu cầu protein của bò. Tuy nhiên, nếu kết hợp ñược bổ sụng NPN với
một nguồn protein thực thì bò sẽ cho năng suất tốt hơn với giá thành thoả ñáng khi vỗ béo bò
bằng thức ăn ủ xanh.
Khi vỗ béo bò bằng thức ăn ủ xanh cần bổ sung thêm vitamin A vì mặc dù trong thức ăn
ủ xanh có khá nhiều caroten nhưng khả năng chuyển hoá caroten thành vitamin A của bò thịt
không ñược tốt. Ngoài vitamin A không cần bổ sung thêm các loại vitamin khác nếu như bò
ñược chiếu sáng ñầy ñủ (Vitamin D ñược hình thành dưới da).
Khi vỗ béo bằng thức ăn ủ xanh cũng cần phải bổ sung các loại khoáng như canxi,
phốtpho, muối, lưu huỳnh, coban, sắt… Khoáng có thể bổ sung theo một tỷ lệ nhất ñịnh trong
khẩu phần hoặc cung cấp dưới dạng bò có thể ăn tuỳ thích. Một hỗn hợp khoáng tốt ñể bổ
sung cho ngô ủ xanh chứa 2 phần là dicanxiphốtphát và 1 phần là hỗn hợp các loại khoáng vi
lượng.
c. Vỗ béo bằng phụ phẩm
Hình thức này có thể áp dụng ở những nơi có công nghiệp chế biến:
- Chế biến tinh bột: bã bia, bã rượu
- Chế biến thực phẩm: rỉ mật, bã ñậu phụ, bột xương, khô dầu các loại, v.v.
- Chế biến rau quả: các loại bã dứa, vỏ hoa quả.
Trường ðại học Nông nghiệp 1 - Giáo trình Chăn nuôi Trâu Bò


233

Với các thức ăn trên có thể phối hợp với các phụ phẩm nông nghiệp như rơm rạ, cỏ
khô ñể nuôi vỗ bò thịt. Khi dùng các phụ phẩm phải ñược bảo quản tốt vì ñây ñều là những
loại thức ăn có tỷ lệ nước cao, hàm lượng dinh dưỡng cao nên rất dễ lên men chua và thối.
Thường dùng các loại phụ phẩm vỗ béo bê với thể trong ban ñầu không dưới 250-270
kg và qua 3 tháng vỗ béo ñạt ñến 340-360 kg. Vỗ béo bằng phụ phẩm mà khối lượng ban ñầu
thấp sẽ không có hiệu quả bởi vì sẽ không cho phép nâng thể trọng của bò ñến mức mong
muốn, không cho ñộ béo cao và chất lượng thịt tốt.
d. Vỗ béo bằng thức ăn tinh
Hiện nay ở một số nơi trên thế giới người ta tiến hành vỗ béo bò bằng khẩu phần dựa
trên thức ăn tinh là chủ yếu. Thức ăn tinh dùng ñể vỗ béo dựa trên các loại hạt ngũ cốc và họ
ñậu, các hỗn hợp thức ăn có thành phần ñặc biệt, ñồng thời ñảm bảo một lượng xơ thích hợp
cần cho hoạt ñộng tiêu hoá ñược bình thường. Tỷ lệ thức ăn tinh so với thức ăn thô trong
khẩu phần có thể là 4:1. Khi vỗ béo bằng thức ăn tinh cần phải cung cấp thức ăn thô với ñộ
cắt băm nhất ñịnh, cân bằng tốt về các chất khoáng và các hoạt chất sinh học trong khẩu
phần.
Khó khăn nhất của hình thức vỗ béo này là khống chế không ñể bò bị mắc bệnh axit dạ
cỏ. Do vậy, người ta thường cho các chất ñệm (ví dụ bicácbônat) trộn với thức ăn tinh và cho
ăn rải ñều ñể ổn ñịnh pH của dạ cỏ. Mặt khác, kháng sinh cũng thường không thể thiếu trong
khẩu phân dạng này ñể chống các vi khuẩn gây bệnh (như E. coli) phát triển trong ñiều kiện
pH dạ cỏ thấp.
5.3. Quản lý bò vỗ béo
a. Quản lý bò mới ñưa vào vỗ béo
Bò trước lúc giết thịt thường ñược chuyển (hay mua) về ñể vỗ béo ở một nơi tập trung.
Bò mới ñưa vào vỗ béo cần khoảng 2 tuần ñể thích nghi với môi trường mới. Có thể áp dụng
các biện pháp sau ñây ñể ốn ñịnh bò mới ñưa vào vỗ béo:
1. Nhốt tách riêng những bò mới ñưa vào vố béo nhằm không cho chúng ở cạnh những
con cũ ñã thích ứng rồi. Khi vỗ béo trong chuồng, ñàn bò vỗ béo thường ñược chia nhóm gồm
10 con cùng giới tính, cùng tuổi và khối lượng ở trong cùng ô chuồng. Nên tránh thay ñổi cấu
trúc ñàn vỗ béo hoặc di chuyển ñàn bò vỗ béo ñi chỗ khác vì mọi sự thay ñổi này ñều làm
giảm mức tăng trọng của ñàn bò.
2. Bò mới phải ñược nghỉ ngơi ở những khu vực khô ráo, sạch sẽ và không ñược nhốt bò
quá chật chội.
3. Trong thời gian này cần ñánh dấu, thiến (nếu chưa thiến trước ñó), kiểm tra sức khoẻ
cơ thể, tẩy giun sán, phun ve và tiêm phòng cho bò.
4. Nơi tiếp nhận bò nên làm dạng chuồng chỉ có mái che ñể bò có thể tự do chọn hoặc ở
dưới mái hay ở ngoài trời.
5. Cung cấp ñầy ñủ nước uống sạch có tác dụng cực kỳ quan trọng vì bò có xu hướng bị
mất nước sau thời gian vận chuyển dài.
6. Nếu chăn thả, nên áp dụng hệ thống chăn thả theo giờ ñối với bò mới vỗ béo. Nếu
nuôi nhốt thì thành phần thức ăn cho bò mới ñưa vào vỗ béo phải thay ñổi từ từ ñể ñạt tới
thành phần thức ăn vào thời ñiểm bắt ñầu vỗ béo. Khối lượng thức ăn có thể tăng lên từ từ khi
thể trạng và hình dáng của bò cho thấy bò không còn sụt cân nữa.
Trường ðại học Nông nghiệp 1 - Giáo trình Chăn nuôi Trâu Bò


234

b. Quản lý bò trong thời gian vỗ béo
- Xác ñịnh khối lượng bò và lượng thu nhận thức ăn
Khối lượng của từng con bò phải ñược xác ñịnh tại thời ñiểm bắt ñầu vỗ béo và ghi
chép lại hàng tháng cho ñến khi xuất bò ñi. Nếu thấy bò hơi giảm khối lượng hay tăng trọng ít
so với tháng trước thì phải khám kiểm tra xem bò có bị bệnh không, có bị ký sinh trùng
không, nhiệt ñộ và các ñiều kiện môi trường có thay ñổi không? Những yếu tố này ñều dẫn
ñến những thay ñổi bất thường về cơ thể bò.
Lượng thức ăn ăn vào cho cả ñàn phải ñược ghi chép lại. Khối lượng thức ăn tinh và
thức ăn thô phải ñược cân trước khi cho ăn và ghi chép ñầy ñủ.
- Quản lý sức khoẻ hàng ngày
Hàng ngày phải quan sát ñàn bò vỗ béo nhằm bảo vệ và can thiệp ñối với những con có
biểu hiện không bình thường càng sớm càng tốt. Một số ñiểm then chốt trong việc quan sát là
lượng thức ăn ăn vào, hô hấp, dáng ñi, vùng bụng, chuyển ñộng và dáng ñi của bò, tình trạng
phân, nước tiểu và các bộ phân của cơ thể.
Việc cắt móng cho bò cần ñược tiến hành lúc bắt ñầu vỗ béo và làm lại tuỳ vào thời
gian vỗ béo. Móng quá dài sẽ làm bò giảm thu nhận thức ăn và dễ gây tai nạn như gãy chân.
Nước uống cho bò phải ñược kiểm tra hàng ngày và máng uống phải sạch. ðộn lót
chuồng phải phủ dày thêm hàng ngày với 2-3kg/con/ngày. Nếu lót nền bẩn phải thay khoảng
2 lần/tháng.
- Quản lý hoạt ñộng sinh dục của bò
Nếu ñàn bò vỗ béo là bò ñực (non) thì hiện tượng chúng nhảy nhau thường khá phổ
biến và gây thiệt hại ñáng kể về mặt kinh tế. Tổn thất gây ra chủ yếu là do gây chấn thương và
stress cho cả con nhảy và con bị nhảy. Thiến bê sẽ giảm ñược hiện tượng nhảy nhau nhưng
không loại trừ ñược hoàn toàn. Do vậy, cần sớm phát hiện và tách riêng những con ñó ra.
Nếu ñàn bò vỗ béo là bò cái thì bình thường chúng có biểu hiện ñộng dục ñều ñặn theo
chu kỳ tính. ðiều này gây ra nhiều phiền phức cho quản lý và có lẽ là một nguyên nhân quan
trọng làm giảm tăng trọng so với bò ñực. Bò cái tơ thường ñộng dục trong khoảng 20h và
trong thời gian ñó nó có thể bị con khác nhảy lên trên cả chục lần. Hơn nữa, trong thời gian
này nó ăn rất ít. Trước ñây người ta hoạn bò cái ñể loại bỏ ñộng dục trước khi ñưa vào nuôi
vố béo giết thịt, nhưng việc này thường gây sốc, mất máu và thậm chí bị viêm nhiễm sau ñó,
chưa nói ñến sự phức tạp và tốn kém. Gần ñây người ta sử dụng các loại thuốc ức chế ñộng
dục (tác dụng tương tự progesteron) cho bò cái tơ nuôi lấy thịt có hiệu quả tốt. Ví dụ, kết quả
trung bình của 47 thí nghiệm ở Mỹ sử dụng chất MGA (melengesterol acetate) cho bò cái tơ
ăn ñể ức chế ñộng dục ñã làm tăng trọng tăng thêm 10% và hiệu quả sử dụng thức ăn tăng 6%
so với ñối chứng.
VI. CÁC MÔ HÌNH TỔ CHỨC CHĂN NUÔI BÒ THỊT
Các cơ sở (trang trại/nông hộ) chăn nuôi bò thịt có thể ñược tổ chức theo nhiều mô hình
khác nhau tuỳ theo các công ñoạn mà cơ sở ñó tham gia trong dây chuyển chăn nuôi bò thịt
(hình 9.5). Nhìn chung, các cơ sở chăn nuôi bò thịt thuộc một trong các nhóm mô hình tổ
chức chính như sau: (1) Chăn nuôi bò sinh sản, (2) Chăn nuôi bê sinh trưởng, (3) Chăn nuôi
bò vỗ béo và (4) Chăn nuôi tổng hợp (kết hợp nuôi cả bò sinh sản với nuôi bò lấy thịt).
Trường ðại học Nông nghiệp 1 - Giáo trình Chăn nuôi Trâu Bò


235

6.1. Mô hình chăn nuôi bò sinh sản (mẹ-con)
ðây là mô hình tổ chức chăn nuôi mà ở ñó có một ñàn bò sinh sản (thường gồm cả bò
ñực và bò cái) dùng ñể sản xuất bê cai sữa bán cho các cơ sở nuôi bê sinh trưởng hay bán cho
các cơ sở chăn nuôi bò sinh sản khác (dùng ñể thay thế ñàn bò giống).
Việc xây dựng một ñàn bò sinh sản là cả một chương trình lâu dài. Cơ sở chăn nuôi này
ñòi hỏi có nhiều ñất ñai. Hoạt ñộng chăn nuôi của các cơ sở này diễn ra quanh năm nên cần
phải ñảm bảo ñủ thức ăn, nước uống, chuồng trại cho ñàn bò trong suốt cả năm.





















Hình 9.5: Các công ñoạn trong chăn nuôi bò thịt

Có hai dạng cơ sở chăn nuôi bò sinh sản: nhân giống bò thuần (có ñăng ký) và nhân
giống thương phẩm. Thu nhập của các cơ sở nhân giống thuần chủ yếu là từ bán con giống
thay thế ñàn cho các cơ sở chăn nuôi bò sinh sản khác. Thu nhập của cơ sở chăn nuôi bò sinh
sản thương phẩm có ñược chủ yếu từ tiền bán bê cai sữa (ñể nuôi thịt) và bò cái loại thải hàng
năm. Việc chăm sóc nuôi dưỡng ñàn bò giống thuần có ñăng ký giống ñòi hỏi phải ñầu tư
nhiều hơn so với ñàn bò sinh sản thương phẩm.
a. Gây tạo ñàn bò giống thuần
Bò cái tơ loại thải
Bò cái loại thải
Bß c¸i sinh
s

n

Bß c¸i t¬

Bê ñực
cai sữa
Bê cái cai
sữa

Bê ñực
sau cai sữa &
sinh trưởng
Bê cái
sau cai sưa &
sinh trưởng

VỖ BÉO
(3 tháng)
LÒ MỔ
BÁN GIỐNG

Trường ðại học Nông nghiệp 1 - Giáo trình Chăn nuôi Trâu Bò


236

Khi mục tiêu của cơ sở chăn nuôi là nuôi bò sinh sản có ñăng ký giống ñể sản xuất bê
giống thuần bán cho các cơ sở chăn nuôi bò sinh sản khác thì cần phải ñầu tư vốn lớn vào ñàn
bò giống thuần. Gây tạo một ñàn bò giống thuần có ñăng ký nghĩa là cả bò cái và bò ñực ñều
phải thuộc một giống bò thuần và ñược ñăng ký theo cùng một hệ thống quản lý giống quốc
gia. Người chăn nuôi phải theo dõi và ghi chép chính xác hồ sơ của bê và ñăng ký những con
bê thuần ñáp ứng ñược yêu cầu ñể bán cho các cơ sở chăn nuôi khác làm giống.
Nếu cơ sở muốn chăn nuôi bê ñực làm giống thì phải có chương trình chọn lọc dựa
trên những tính trạng kinh tế quan trọng như khả năng sinh sản, khả năng nuôi con, tính dễ ñẻ,
tốc ñộ sinh trưởng và chất lượng thân thịt. ðồng thời các cơ sở này cũng phải chọn lọc cẩn
thận bò cái ñể làm mẹ ñực giống.
b. Gây tạo ñàn bò sinh sản thương phẩm
Tiêu chuẩn chọn lọc bò cái sinh sản thương phẩm tốt dựa vào tầm vóc, chất lượng
giống, tuổi, thể trạng, giai ñoạn có chửa và giá bán. Cần chọn bò cái thuộc một giống nào ñó
có thể vóc phù hợp với nguồn thức ăn và ñiều kiện tự nhiên, thời tiết khí hậu tại chỗ. Lai
giống thường ñược áp dụng với ñàn bò cái sinh sản thương phẩm (thuần chủng). ðây là một
lợi thế nhờ khai thác ñược ưu thế lai và tiềm năng di truyền bổ sung từ hai hay nhiều giống
khác nhau vào trong ñời con (bê lai thương phẩm).
c. Quản lý ñàn bò mẹ-bê con bú sữa
Mối quan tâm chính của người chăn nuôi là lợi nhuận. ðối với chăn nuôi bò sinh sản
thì lợi nhuận có ñược phụ thuộc vào tỷ lệ bê cai sữa (số bê cai sữa so với số bò cái phối
giống), khối lượng của bê cai sữa, chi phí duy trì ñàn bò giống và cuối cùng là giá bán bê. Vì
toàn bộ dây chuyền này phụ thuộc vào sức khỏe của ñàn bò giống cho nên ñiều cốt yếu là
phải giữ ñược sức khoẻ tốt cho ñàn bò này bằng cách không ñể chúng quá béo hoặc quá gầy.
Bò cái sẽ không cho sữa tốt, cũng như có thể khó chửa ñẻ nếu chúng quá béo hay quá gầy. Bò
ñực không có thể trạng tốt có thể hoạt ñộng phối giống kém.
6.2. Mô hình chăn nuôi bê sinh trưởng
ðây là mô hình tổ chức cơ sở chăn nuôi mà ở ñó không có bò sinh sản, bê ñược mua về
nuôi trong một thời gian rồi bán. Có hai dạng nuôi bê sinh trưởng chính như sau:
- Nuôi bê sau cai sữa: Bê ñược mua ở giai ñoạn sau cai sữa, nuôi trong một thời gian
ngắn, sau ñó ñem bán cho các cơ sở nuôi bò dự bị trước vỗ béo. Dạng tổ chức chăn nuôi này
cho phép thu hồi vốn nhanh và ñầu tư cho mỗi bê ít, hơn nữa không ñòi hỏi phải có nhiều ñất
ñai.
- Nuôi bê dự bị trước vỗ béo: Bê có thể ñược mua ngay sau khi cai sữa hay một năm
tuổi (từ các cơ sở chăn nuôi bò sinh sản hay cơ sở nuôi bê sau cai sữa) về nuôi trong một thời
gian nhất ñịnh (chăn thả trên ñồng cỏ hay nuôi nhốt tại chuồng) cho ñến khi bán cho các cơ sở
nuôi vỗ béo.
Trong mô hình chăn nuôi này, bê sau khi mua về ñược nuôi trong một khu vực tân ñáo
trong vòng 2 tuần ñể theo dõi và phòng ngừa lây lan bệnh tật. Bê trong giai ñoạn này ñược
cung cấp ñầy ñủ thức ăn, nước uống và ñược chăm sóc cẩn thận.
6.3. Mô hình chăn nuôi bò vỗ béo
Trong chăn nuôi bò thịt chuyên canh thì bò trước lúc giết thịt ñều phải trải qua một giai
ñoạn vỗ béo ñể có ñược sản phẩm ñáp ứng ñược yêu cầu của thị trường. Chính vì thế có một
số cơ sở thương phẩm ñầu tư chuyên vỗ béo bò. Bê/bò từ các cơ sở chăn nuôi bò sinh trưởng
Trường ðại học Nông nghiệp 1 - Giáo trình Chăn nuôi Trâu Bò


237

hay từ các cơ sở chăn nuôi bò sinh sản ñược mua về vỗ béo trong một thời gian ngắn (2-3
tháng) rồi bán ñể giết thịt.
6.4. Mô hình chăn nuôi tổng hợp
ðây là mô hình tổ chức chăn nuôi bò thịt mà ở ñó có cả ñàn bò sinh sản và ñàn bò nuôi
lấy thịt. Hầu hết bê sinh ra từ những ñàn bò sinh sản thương phẩm nhỏ ñều ñược bán sau khi
cai sữa. Tuy nhiên, ở những cơ sở chăn nuôi hỗn hợp này có một số cách thức khác như sau:
- Cai sữa bê và nuôi tiếp cho ñến 1 năm tuổi thì bán.
- Tập cho bê ăn sớm ngay trong thời gian bú sữa, sau cai sữa nuôi dưỡng ñầy ñủ và bán
lúc 12-15 tháng tuổi cho các cơ sở vỗ béo.
- Cai sữa bê rồi nuôi theo khẩu phần bê sinh trưởng (chăn thả hoặc nuôi nhốt tuỳ theo
hoàn cảnh), sau ñó ñưa vào vỗ béo trước khi giết thịt vào lúc 18-24 tháng tuổi.
VII. CÁC HÌNH THỨC MARKETING SẢN PHẨM CHĂN NUÔI BÒ THỊT
Khi tổ chức chăn nuôi bò thịt theo bất kỳ một mô hình nào thì người chăn nuôi cũng
phải có kế hoạch mua bán bò chi tiết nhằm thu ñược lợi nhuận cao nhất. Người chăn nuôi sẽ
nuôi bò thịt ñến một giai ñoạn mà chúng ñáp ứng ñược yêu cầu của người mua/thị trường thì
bán ñể thu ñược giá tốt nhất. Trên thế giới có nhiều phương thức mua bán bò khác nhau tuỳ
theo truyền thống, trình ñộ phát triển và hoàn cảnh cụ thể của mỗi nước. Trong một nền kinh
tế ñịnh hướng thị trường như ở nước ta, có thể tham khảo các phương thức marketing sau ñây
ñể áp dụng.
7.1. Mua bán bò trực tiếp
ðây là phương thức mà người bán bò bán trực tiếp cho người mua bò mà không qua
một ñại lý hay người môi giới nào cả. Việc mua bán bò sống có thể diễn ra ngay trên trang
trại chăn nuôi, nơi thu gom hay một ñịa ñiểm không mang tính chất của một chợ mua bán.
Thông thường thì người mua bò ñến trực tiếp tại trại và thoả thuận giá cả mua bò. Sau khi
mua bán xong thì bò ñược chuyển thẳng tới nhà máy chế biến thịt/lò mổ, trang trại khác, nơi
vỗ béo hay ra cảng ñể xuất khẩu tuỳ theo từng trường hợp cụ thể.
Phương thức mua bán trực tiếp giúp giảm ñược các chi phí trung gian khi hoàn cảnh
cho phép. Phương thức mua bán bò này là phương thức chính hiện nay ở nước ta. Người mua
bò (người làm thịt bò ñể bán lẻ, người của lò mổ, người buôn bò, người chăn nuôi khác)
thường ñến tận nơi chăn nuôi ñể mua bò trực tiếp.
7.2. Bán ñấu giá bò
Mua bán bò qua ñấu giá là một phương thức rất phổ biến ở các nước chăn nuôi bò thịt
truyền thống. Bò ñược chuyển từ trại chăn nuôi ñến chợ bán ñấu giá. Chợ bán ñấu giá gia súc
là khu vực mua bán mà ở ñó gia súc ñược bán theo hình thức ñấu giá công khai. Người mua
nào trả giá cao nhất tính theo khối lượng hay ñầu con sẽ ñược quyền mua. Người mua chịu
trách nhiệm mang bò ñi khỏi chợ. Chợ ñấu giá có thể ñược kinh doanh bởi tư nhân, công ty,
hợp doanh hay hiệp hội. Người bán bò thường phải trả một số phí như chi phí vận chuyển bò,
hoa hồng cho người ñại lý, thuế chợ, bảo hiểm và phí cân bò.
Trường ðại học Nông nghiệp 1 - Giáo trình Chăn nuôi Trâu Bò


238

Việc bán ñấu giá cũng có thể ñược thực hiện ngay tại trang trại của người chăn nuôi.
Những người mua bò ñến tận trang trại, kiểm tra bò trước khi cuộc ñấu giá bắt ñầu vào một
thời gian ñã ñược thông báo trước
Các chợ trâu bò ở nước ta hiện nay là một hình thức mua bán theo kiểu mặc cả. Khi
ngành chăn nuôi bò thịt phát triển cũng có thể nâng cấp các chợ trâu bò này lên thức mua bán
“ñấu giá” công khai và quy cũ hơn.
Gần ñây ở nhiều nước có một hình thức mua bán bò mới là ñấu giá qua mạng máy
tính. Bò ñược quảng cáo dưới hình thức ñiện tử và ñược ñánh giá bằng một hệ thống cho ñiểm
chuẩn hoá. Người mua sử dụng những mô tả theo tiêu chuẩn ñó ñể trả giá cho những con bò
ñịnh mua. Bò không cần chuyển khỏi trang trại trước khi bán. Sau khi thoả thuận mua bán
(ñấu giá) xong, người mua sẽ tổ chức việc vận chuyển số bò mua ñược ñến một nhà máy chế
biến thịt, ñến nơi vỗ béo hay chuyển ñi xuất khẩu.
7.3. Mua bán theo hợp ñồng trước
ðây là phương thức mua bán bò theo sự thoả thuận trước giữa người chăn nuôi và
người mua bò dưới dạng hợp ñồng. Người bán bò chịu trách nhiệm cung cấp cho người mua
một số lượng bò cụ thể với khối lượng và một số ñiều kiện nhất ñịnh, vào một thời gian ñược
ấn ñịnh sẵn và theo giá ñược thoả thuận trước. Phương thức này giúp người chăn nuôi tránh
ñược rủi ro do biến ñộng giá cả theo thời gian. Tuy nhiên, giá ñã thoả thuận cũng có thể bị
chiết khấu nếu bò xuất bán không ñáp ứng ñược những yêu cầu như ñã thoả thuận trong hợp
ñồng. Một nhóm người chăn nuôi có thể hoạt ñộng cùng nhau như là một liên minh ñể ký hợp
ñồng với những người mua ñược ưa thích (xem phần dưới).
7.4. Bán lẻ sản phẩm thịt bò
Một số cơ sở chăn nuôi có thể xây dựng lò mổ và thiết bị chế biến/bao gói các sản
phẩm thịt bò riêng ñể bán lẻ trực tiếp cho người tiêu dùng. Người chăn nuôi thường phải tạo
ra một chợ ñịa phương hay cửa hàng khu vực ñể bán ở ñó những phần thịt hay sản phẩm thịt
bò ñặc sản của mình. Phương thức này ñòi hỏi có thời gian ñể tạo dựng và có thể ñòi hỏi phải
có nguồn cung cấp sản phẩm ổn ñình hàng năm hay theo mùa vụ. Người bán phải tuân thủ
những yêu cầu nhất ñịnh về kiểm dịch thú y và phải xin phép ñịa phương.
ðối với các sản phẩm thịt bò kiểu này, việc mua bán theo kiểu quan hệ. Bước ñầu tiên
trong quan hệ ñó là xác ñịnh ai là khách hàng của mình (không phải là bất cứ ai). Nguồn
khách hàng này bao gồm những người muốn có những sản phẩm ñặc biệt và nhu cầu của họ
phải là ưu tiên xem xét hàng ñầu trước khi sản xuất sản phẩm. Trước tiên thỉnh thoảng phải
trao ñổi với những khách hàng tiềm năng và tìm hiểu xem những ñặc tính nào của sản phẩm
thịt bò ñược họ ñánh giá cao - chất lượng tốt, giá thấp, tỷ lệ nạc cao, phân phối tại nhà, một số
phần nhất ñịnh của thân thịt, v.v… Xây dựng nhãn hiệu/bao gói và phương thức marketing ñể
có thể bao hàm ñược những yếu tố này và sau ñó giới thiệu với những khách hàng dự ñịnh.
Khi ñã hội tụ ñủ các ñiều kiện trên thì bắt ñầu xây dựng sản phẩm. ðây là cách tiết
kiệm nguồn lực, kể cả nguồn vốn có hạn. Xây dựng sản phẩm trước rồi mới tìm thị trường
cho nó thì vừa rủi ro lại vừa kém hiệu quả. Cần nhớ rằng “sản phẩm” ở ñây chứa ñựng nhiều
Trường ðại học Nông nghiệp 1 - Giáo trình Chăn nuôi Trâu Bò


239

thứ hơn là bản thân thịt bò, nó bao hàm cả dịch vụ, bao gói, tên trang trại, phương thức sản
xuất, và thậm chí cả giá cả. ðể cho một sản phẩm ñứng vững ñược trên thị trường ñầy cạnh
tranh và thu hút ñược khách hàng mua liên tục thì sản phẩm ñó phải ñược thiết kế cẩn thận
cho khác với các dạng sản phẩm và thương hiệu thịt bò khác.
Trong khi người chăn nuôi bò thịt có thể có ñược hệ thống “marketing theo quan hệ”
trong tay, thì hầu hết những người sản xuất/ñóng gói thịt bò theo dây chuyền lớn lại có sức
mạnh về quy mô của họ. Vì có thể không thể cạnh tranh về mặt giá cả với những người sản
xuất thịt bò theo dây chuyền marketing lớn nên người chăn nuôi bán sản phẩm trực tiếp cần
phải chọn một hình thức làm cho sản phẩm của mình trở nên “ñặc sản” ñể hấp dẫn khách
hàng.
Xây dựng giá bán là một công việc rất khó khăn. Giá bán phải trang trải ñược giá
thành sản xuất, chi phí tái ñầu tư sản xuất và có ñược lợi nhuận chấp nhận ñược. Lợi nhuận
phải ñược dự tính trước chứ không phải coi lợi nhuận là những gì còn thừa lại. Nếu ñịnh giá
quá thấp sẽ có nguy cơ thua lỗ, trái lại ñịnh giá quá cao sẽ không bán ñược sản phẩm. Do vậy,
cần có nghiên cứu thị trường ñể nắm ñược quy mô tiêu thụ, thị phần và giá cả mà khách hàng
sẵn sàng trả ñể mua thịt bò ñặc sản. Liệu giá ñó có cho phép kinh doanh có lãi không?
7.5. Liên minh marketing
ðối với những thị trường có những người mua bò với quy mô lớn thì các nhà sản xuất
nếu bán bò/thịt bò ñộc lập với nhau sẽ bị bất lợi. Do vậy việc tạo ra các liên minh giữa các
nhà sản xuất có chung mục ñích sẽ cho phép tăng quy mô và ñiều phối việc bán bò có hiệu
quả hơn, nhờ vậy mà tăng ñược giá trị cho sản phẩm và cải thiện ñòn bẩy kinh tế cho các
thành viên. Các liên minh này có thể ñiều tiết thị trường bò thịt cả theo chiều ngang (giữa các
nhà chăn nuôi) và theo chiều dọc (giữa các nhà chăn nuôi, người sản xuất con giống, người vỗ
béo thương phẩm, người chế biến/bao gói sản phẩm…).
Một liên minh thường ñược xây dựng trên cơ sở những mục tiêu hay quan tâm chung,
nó có thể là một chương trình chăn nuôi và chăm sóc sức khoẻ, một giống bò cụ thể, một ñặc
thù ñịa lý, hay một mối quan tâm chung về tỷ lệ nạc chẳng hạn. Các liên minh này cho phép
cả người chăn nuôi bò sinh sản cũng có thể chia sẻ một cách bình ñẳng lợi nhuận tiềm tàng
thông qua việc duy trì quyền sở hữu và cải thiện sự ổn ñịnh của bò thịt qua việc nhóm những
gia súc cùng loại với nhau. Tuy nhiên, các liên minh không chịu trách nhiệm bảo ñảm lợi
nhuận. Chỉ những con bò ñáp ứng ñược yêu cầu chi tiết của thị trường sẽ ñược thưởng. Chăm
sóc nuôi dưỡng tốt chính là chìa khoá. Các liên minh có thể cung cấp thông tin phản hồi về
chất lượng thân thịt cho các nhà sản xuất.
7.6. Hợp tác xã tiêu thụ
Một dạng liên minh phổ biến trong ngành hàng bò thịt là hợp tác xã tiêu thụ. Một hợp
tác xã (HTX) như vậy là một tổ chức kinh doanh do người chăn nuôi làm chủ, hoạt ñộng theo
quy chế dân chủ và tuân thủ luật pháp. Các HTX có thể hoạt ñộng dưới dạng gom bò bán theo
những nhóm có các ñặc ñiểm riêng nhằm ñáp ứng ñược yêu cầu của khách hàng. Số lượng và
sự ñồng ñều của bò trong từng nhóm có ảnh hưởng lớn ñến giá cả bán bò. Do vậy các HTX
Trường ðại học Nông nghiệp 1 - Giáo trình Chăn nuôi Trâu Bò


240

dịch vị tiêu thụ bò sẽ rất có lợi cho những người chăn nuôi quy mô nhỏ. Tuy nhiên nó ñòi hỏi
những người chăn nuôi phải có sự cam kết nghiêm túc, có sự ñầu tư thêm về thời gian, công
sức và rõ ràng là phải sẵn sàng “hợp tác” với nhau. ðể cho các HTX hoạt ñộng ñược tốt thì
các ñiều quy ước phải chắc chắn, công bằng và ñược tuân thủ nghiêm. Phải có quy ước về tiêu
chuẩn chất lượng của nhóm; những xã viên nào có bò không ñáp ứng ñược tiêu chuẩn thì
không ñược phép bán qua HTX.
CÂU HỎI ÔN TẬP:
1. Trình bày quy luật phát triển các mô trong thân thịt và ứng dụng các quy luật này
trong chăn nuôi bò thịt?
2. Trình bày các chỉ tiêu ñánh giá năng suất thịt và chất lượng thân thịt.
3. Trình bày các chỉ tiêu ñánh giá chất lượng thịt của bò.
4. Phân tích các nhân tố ảnh hưởng ñến năng suất và chất lượng thịt bò.
5. Trình bày các phương pháp nuôi bê trong giai ñoạn trước vỗ béo.
6. Nêu các kiểu vỗ béo căn cứ vào ñối tượng ñưa vào vỗ béo.
7. Nêu các hình thức vỗ béo căn cứ vào nguồn thức ăn chính dùng ñể vỗ béo.
8. Nêu các biện pháp quản lý bò vỗ béo.
9. Trình bày các mô hình tổ chức chăn nuôi bò thịt.
10. Các hình thức marketing sản phẩm chăn nuôi bò thịt?.